Sự tích Mã đầu cầm – Thiên tình sử với tiếng đàn ai oán giữa thảo nguyên mênh mông

Trong đời sống của người Mông Cổ, tiếng hát tiếng đàn ngân vang cả chốn thảo nguyên rộng lớn. Tiếng vó ngựa làm đệm cho tiếng đàn mã đầu cầm trải dài bất tận. Đàn cất lên như một giọng ca ai oán não nùng, tiếng đàn như khóc than, nỗi buồn với nuối tiếc …
The post Sự tích Mã đầu cầm – Thiên tình sử với tiếng đàn ai oán giữa thảo nguyên mênh mông appeared first on Đại Kỷ Nguyên.

Vì sao nghệ thuật thư pháp Á đông lại là nét bút chứa đựng cả tâm tình?

Thư pháp hay còn gọi là nghệ thuật viết chữ Hán được coi là một loại hình nghệ thuật rất cao. Không phải chỉ đơn thuần là viết đẹp, mà còn ẩn chứa rất nhiều hàm ý thâm sâu về nội tâm của người viết. Vì sao gọi thư pháp là một nghệ thuật? Bởi …
The post Vì sao nghệ thuật thư pháp Á đông lại là nét bút chứa đựng cả tâm tình? appeared first on Đại Kỷ Nguyên.

Văn minh cổ xưa: Các chiến binh Samurai không chỉ thiện chiến mà còn giỏi âm nhạc, nghệ thuật và thơ ca

Vào thời Trung cổ, Nhật Bản đã có một tầng lớp chúa tể phong kiến rất hùng mạnh gọi là Daimyo. Dù đất nước được cai trị bởi hoàng đế và gia tộc của ông, nhưng còn có nhiều khu vực thuộc quyền thống trị riêng của các tướng lĩnh ‘daimyo’ và các lãnh chúa quyền …
The post Văn minh cổ xưa: Các chiến binh Samurai không chỉ thiện chiến mà còn giỏi âm nhạc, nghệ thuật và thơ ca appeared first on Đại Kỷ Nguyên.

Dấu ấn văn minh xưa: Đại học Oxford còn cổ hơn cả Đế quốc Aztec cổ xưa

Vì đại học Oxford vẫn đang hiện hữu và đang giảng dạy sinh viên, ít ai ngờ rằng trường Đại học này còn cổ hơn nhiều so với đế chế cổ xưa đã bị diệt vong này…
Đại học Oxford, nằm ở Oxford, Vương quốc Anh, tạo cảm giác nó là một học viện của thời nay của chúng ta, đang đồng hành và sống cùng với chúng ta, chứ không phải là một trường đại học cổ.

Trong tâm trí chúng ta, không phải lúc nào cũng nhớ rằng nó đã được gần một ngàn năm tuổi.
Có bằng chứng cho thấy việc giảng dạy ở trường Oxford đã bắt đầu từ năm 1096, khiến nó trở thành trường đại học lâu đời nhất của các vùng nói tiếng Anh trên thế giới. Đây cũng là một trong những trường đại học lâu đời nhất thế giới giữ được hoạt động liên tục.
Nó phát triển nhanh chóng từ năm 1167 khi Vua Henry II (1133-1189), còn gọi là Henry Plantagenet, cấm sinh viên người Anh học tại Đại học Paris.
Sau nhiều tranh chấp giữa sinh viên và người dân Oxford, vào năm 1209, một số học giả đã quyết định chuyển tới tới Cambridge, cách Oxford 106 km (66 dặm), ở đó họ thành lập nên trường Đại học Cambridge. Vì vậy, hai trường đại học này thường được gọi dưới một cái tên chung là “Oxbridge”.
Năm 1249, Trường Đại học Oxford đã trở thành một trường đại học chính quy.

Ấn tượng ngược lại được thấy ở đế quốc Aztec, khi chúng ta coi nó là một nền văn minh rất cổ. Tuy nhiên, sự khởi đầu chính thức của nền văn minh Aztec mới chỉ từ năm 1325 và thành phố Tenochtitlán của nó được thành lập tại nơi mà ngày nay là Mexico.
Người Aztec tự gọi họ là Mexica, sau khi vị thần hộ mệnh cho họ là Mexi, theo những truyền thuyết, đã đưa họ ra khỏi tù ngục ở thời trung cổ, để tới khu vực Hồ Tezcoco, là vùng trung tâm của Mexico hiện nay. Người Anh Điêng Mexica là nhóm sắc tộc chiếm ưu thế, điều hành Đế quốc Aztec từ thành phố thủ đô của họ tại Tenochtitlán trong thung lũng Mexico.
Vào năm 1325 sau CN, thành phố Tenochtitlan được thành lập, sau đó nó đã dần lớn mạnh và thịnh vượng, và trong giai đoạn 1428-30, nó đã nổi trội trong khu vực. Vào cuối thế kỉ 15, nó đã trở thành một đế quốc hùng mạnh và đang trên đà phát triển.
Vậy là, chúng ta có thể tự hào rằng, hiện giờ chúng ta vẫn đang được đặt chân đến học tại một trường đại học cổ xưa và vẫn còn có những dấu ấn văn minh cổ xưa đầy hoài niệm….
Hạo Nhiên

Xem thêm:

Dấu ấn văn minh cổ xưa: Vì sao quần và ủng là các trang phục bị cấm dưới thời La Mã cổ đại?

Quần và ủng là các trang phục bị cấm dưới thời La Mã cổ đại – quần dài đã từng bị coi là một biểu tượng của sự man rợ đối với người La mã cổ đại. Điều kỳ lạ tưởng chừng khó tin này là có thật!
Nếu bạn sống ở La Mã cổ đại, bạn sẽ phải suy nghĩ hai lần trước khi mặc quần. Đối với người La Mã cổ đại, quần dài là biểu tượng rõ ràng nhất của sự man rợ và không một người đàn ông biết coi trọng danh dự nào muốn bị coi là mặc đồ của bọn man di mọi rợ (Barbarians). Thậm chí còn có một đạo luật nghiêm cấm mặc quần và đi ủng ở La Mã cổ đại.
(Ảnh: ancientpages.com)
Quần và ủng (được gọi là ‘bracae’ trong tiếng Latin) gắn liền với những người man rợ hay cưỡi ngựa, bao gồm nhiều nhóm người Giéc Manh, chẳng hạn như Goths, Huns, Vikings và một số khác.
Thuật ngữ “Barbarian” hiện nay đã bị dùng sai khác đi. Trong thời hiện đại, chúng ta thường nói những người Barbarian là những người không được văn minh hay những người xấu. Nhưng ý nghĩa đầu tiên của từ “man rợ” này là không đề cập đến những hành vi xấu xa mà là những người không phải là người Hy Lạp hay không nói tiếng Hy Lạp.
Ovid, một nhà thơ La Mã sống trong thời trị vì của Augustus, khi gặp những ‘người man rợ’ mà ngày nay chính là người Tomis của Romania, ông đã viết: “Những người dù không nguy hiểm, nhưng trông rất ghê tởm, khi mặc áo da và quần dài che kín, và chỉ có mỗi khuôn mặt là thò ra ngoài.”
(Ảnh: Ancientpages.com)
Một đạo luật từ năm 397 và sau đó là một điều khoản khác vào năm 399 sau CN đã cấm ngặt việc mặc quần và đi ủng ở thành Rome, viết rằng:
“Trong thành Rome, không ai được mặc quần hay đi ủng. Nếu bất kỳ người nào, sau khi ban hành Quy định này của Đấng Khoan dung của chúng ta, mà vẫn cố tình ăn mặc như vậy, thì sẽ bị trừng phạt vì vi phạm quy định pháp luật và trục xuất khỏi thành phố thiêng liêng của chúng ta (Codex Theodosianus, 14.10.3 [6 tháng 6, 399 SCN])”
Thủ lĩnh của Gaulish, Vercingetorix, mặc quần, đầu hàng Julius Caesar sau trận Alesia năm 52 TCN.
Susanne Elm, một nhà sử học thuộc Đại học California, Berkeley, người nghiên cứu mối quan hệ của La Mã với các bộ lạc phương bắc, nói: “Ảnh hưởng man rợ về cách ăn mặc là điều mà hoàng đế muốn kiểm soát, nhưng rồi các vệ sĩ của họ, cũng là những người mà họ tin tưởng, lại là những người Barbarian”

Việc cấm mặc quần dài và đi ủng là một nỗ lực trong tuyệt vọng để giữ cho hình ảnh La Mã trường tồn. Trong thời kỳ này, Đế chế La Mã đã trở thành một nơi pha trộn của nhiều truyền thống khác nhau, sau hàng trăm năm bành trướng và thôn tính văn hoá các dân tộc khác.

Tóc để dài và đồ trang sức sặc sỡ cũng nhanh chóng bị cấm như ủng và quần.
“Vào thế kỷ thứ năm và thứ sáu, đột nhiên cái gọi là cách ăn mặc man rợ, với áo có ống tay và quần dài như vậy, lại trở thành đồng phục chính thức của triều đình La Mã“. Giáo sư Kelly Olson, tác giả của cuốn “Nam tính và trang phục trong thời kỳ La Mã cổ đại“, nói: “Nếu bạn tới gần Hoàng đế, thì bạn nên mặc đồng phục như vậy. Các học giả vẫn chưa thể giải thích được điều đó đã xảy ra như thế nào: quần dài vốn bị cấm mặc bỗng lại trở thành trang phục bắt buộc trong triều đình La Mã“.
Điều này có thể được giải thích bởi thực tế là người La Mã cổ đại, vốn hoàn toàn chống lại quần dài và ủng, đã thay đổi thái độ của họ sau khi những người lính La mã tiến vào vùng Bắc u lạnh lẽo và nhận ra tác dụng tuyệt vời của quần áo ấm và ủng cao cổ khi trải qua những ngày đông giá rét.
Hạo Nhiên

Xem thêm:

Tinh túy truyền thống: Kiến trúc và điêu khắc của dân tộc Chăm, di sản quý báu của nhân loại

Khi nhắc tới nghệ thuật điêu khắc, người ta liền nghĩ tới ngay những quốc gia có bề dầy lịch sử cùng những công trình điêu khắc đồ sộ làm mê mẩn người xem như Trung Quốc, Ấn Độ, hay nghệ thuật Kito giáo ở Châu Âu. Nhưng có một dân tộc mà sử sách ghi chép là đất không rộng, người không đông, lại là chủ sở hữu của các công trình được đánh giá là kiệt tác, đặc biệt là điêu khắc. Đó là dân tộc Chăm. 
Tượng thần Siva (Ảnh: mytour.vn)
Những tác phẩm của dân tộc Chăm được đánh giá ngang bằng với những nền nghệ thuật lớn, ở quy mô thế giới cũng như ở quy mô vùng Đông Nam Á, như: Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Java, Khơ-me, nghệ thuật roman (Kitô giáo Âu châu, thời trung cổ), v.v.
Tháp cổ (Ảnh: mytour.vn)
Kiến trúc Chăm có từ thế kỷ thứ I sau công nguyên, là sự phát triển nghệ thuật sớm nhất ở khu vực Đông Nam Á, chịu ảnh hưởng tư tưởng đạo giáo Ấn Độ. Có thể nhìn thấy một tổng quan kiến trúc qua các di tích đền tháp xây dựng một kalan (ngôi đền chính, bao quanh là những tháp nhỏ, những công trình phụ).
Các nhà kiến trúc đã nghiên cứu, tổng kết các phong cách nghệ thuật kiến trúc Chăm, tựu trung là: Phong cách Mỹ Sơn, phong cách Hòa Lai, phong cách Đồng Dương và phong cách Panagar.
Phong cách Đồng Dương được phát hiện vào thế kỷ thứ X, đưa nghệ thuật Chăm lên tới đỉnh cao của nghệ thuật dân tộc bản địa.

Các công trình kiến trúc trường tồn qua lịch sử, tự thân nó đã bộc bạch những niềm tin của con người vào sự tồn tại của Thần, Phật, chính là khát vọng chân chính của con người tìm về cội nguồn. 

Điêu khắc của dân tộc Chăm cũng thể hiện nét đẹp kỳ vĩ, hùng tráng trong các nhân vật, nay vẫn còn lưu giữ.
Câu chuyện lịch sử dân tộc Chăm
(Ảnh: mytour.vn)
Dân tộc Chăm, thuộc ngữ hệ Nam đảo, và theo giả thuyết của các học giả phương tây, thì thiên di từ đảo Borneo, thuộc Indonesia ngày nay, từ vài thế kỷ trước công nguyên đến vùng đất mà sau này trở thành nước Lâm Ấp (192), phía bắc giáp với quận Nhật Nam, phía nam giáp với nước Phù Nam, phía tây giáp nước Chân Lạp.
(Ảnh: mytour.vn)
Năm 192, người Lâm Ấp (tức tổ tiên trực tiếp của người Chăm) tự giải phóng được khỏi ách đô hộ của nhà Hán, và lập ra nước Lâm Ấp, đến thế kỷ V thì mới trở thành vương quốc Chămpa.
Vương quốc Chăm-pa là một quốc gia độc lập, tồn tại từ năm 192- 1932 qua các tên gọi Lâm Ấp, Hoàn Vương, Chiêm Thành và cuối cùng là Panduranga Chăm-pa trên phần đất nay thuộc miền trung Việt Nam.
Cương vực của Chăm-pa lúc mở rộng dài nhất cũng chỉ từ Hoành Sơn ở phía bắc tới cho đến Bình Thuận ở Miền Nam và cho từ Biển Đông cho tới tận phía tây nước Lào ngày nay.
(Ảnh: mytour.vn)
Văn hóa Chăm chịu ảnh hưởng nhiều từ Ấn độ giáo, và Phật giáo thể hiện trong các công trình kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc mà vẫn còn tồn tại cho tới ngày hôm nay.
Chăm-pa hưng thịnh nhất vào thế kỉ thứ 9 và 10 sau đó dần dần suy yếu dưới sức ép nam tiến của quân vương Đại Việt  từ phía bắc và các cuộc chiến tranh của Khơ-me.
Năm 1471, Chăm-pa bị thất bại nặng nề trước Đại Việt và bị mất một phần lớn lãnh thổ sát nhập vào Đại Việt. Phần lãnh thổ còn lại sau này lại bị chúa Nguyễn tiếp tục thôn tính và đến năm 1983 thì toàn bộ lãnh thổ của Chăm sát nhập vào Việt nam.
Điệu múa của người Chăm (Ảnh: dulichvietnam.com)
Người Chăm để lại nhiều di sản nghệ thuật như: Điêu khắc đá, kiến trúc, hội họa, âm nhạc, trong đó nổi bật nhất là kiến trúc và điêu khắc trong các tháp Chăm.
Tín ngưỡng Thần, Phật là hơi thở của các công trình kiến trúc và điêu khắc trong tháp của người Chăm
(Ảnh: mytour.vn)
Trên cơ sở kinh Veda của Bà La Môn giáo, Ấn Độ, (thế kỷ XVI-V tr. Kitô), người Chăm thờ Brahmâ, là vị thần tạo ra nguồn gốc của vũ trụ, và là vị thần đứng trên hết tất cả các vị thần khác, là vương của các vương.
Brahmâ là thể thống nhất của ba vị thần, ba ngôi: Brahmâ: thần Sáng tạo, Visnu: thần Bảo tồn, và Siva: thần Huỷ diệt. Các tháp Chiên Đàn, Khương Mỹ (Tam Kỳ, Quảng Nam), tháp Dương Long (Bình Định), đều là những bộ ba tháp thờ cả ba vị thần này ở cùng một nơi.
Tháp Chiên Đàn, Khương Mỹ (Tam Kỳ, Quảng Nam) (Ảnh: Wikipedia)
Do ảnh hưởng sâu đậm của tín ngưỡng trong văn hóa Ấn Độ, nên người Chăm chủ yếu thờ thần Siva và do đó trong các tượng thờ, tượng Siva có nhiều nhất và xuất hiện dưới nhiều hình thức nhất. Thánh địa Mỹ Sơn, được bắt đầu xây dựng từ thế kỷ IV-V bởi vua Bhadravarman, chính là nơi dành riêng cho các vua chúa để thờ vị thần này.
Tín ngưỡng thờ Thần, Phật là nguồn cảm hứng cho các tác phẩm nghệ thuật bằng tượng kim loại và tranh thờ của người Chăm, đây là những kiệt tác nghệ thuật làm cả thế giới phải trầm trồ tán thưởng.
(Ảnh: mytour.vn)

Khi con người thấm đẫm tư tưởng và văn hóa tín ngưỡng nơi Thần, Phật, điều đó có nghĩa Đức tin ngự trị óc sáng tạo và tác động tới đời sống tinh thần của người Chăm thì sẽ cho ra đời những tác phẩm có sức thuyết phục, sức truyền cảm mạnh mẽ, một đức tin bền vững, một tình yêu và lòng đam mê nghệ thuật của những nghệ nhân thực hiện tác phẩm ấy.

(Ảnh: muavietnam.vn)
Khi tín ngưỡng và niềm tin nơi Thần, Phật được thắp sáng và là điểm tựa tinh thần cho con người, thì người ta sẽ tìm được mọi lời giải đáp cho những khổ đau và những khát vọng của mình, cho nên không lấy gì làm lạ là nghệ thuật tôn giáo trước hết là một nền nghệ thuật giàu tính chất đạo lý, giàu tính dân gian và nhất là giàu óc tưởng tượng.
(Ảnh: mytour.vn)
Trong nghệ thuật điêu khắc của người Chăm, ta thấy hình tượng của các thần Siva, Visnu, Ganesa, Garuda…
(Ảnh: Docsity)
Kiến trúc Chăm đặc biệt là tháp Chăm, được xây dựng và thiết kế một cách đặc biệt.
(Ảnh: Wikipedia)
Nghệ thuật Chăm để lại dấu ấn mạnh mẽ trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng, trên văn bia, kiến trúc và điêu khắc. Kiến trúc Chăm giờ không còn nhiều, nhất là không còn những cung điện nguy nga, tráng lệ.
Nhưng những tháp Chàm đậm vẻ uy nghiêm, thần bí đã hàm chứa rất nhiều giá trị nghệ thuật. Đi dọc dải đất bờ biển miền Trung, ở đâu có cư dân Chăm, ở đấy có tháp Chàm như tháp Poklông Garai (Ninh Thuận), tháp Panagar (Nha Trang), thành Đồ Bàn, tháp Trà Kiệu (Quảng Nam), tháp Linh Thái (Thừa Thiên – Huế).
Tháp chùa có một dáng vẻ kiến trúc độc đáo, xây dựng bằng gạch đất nung, phản ánh trình độ một dân tộc có nền văn hóa cao.
Bí ẩn trong xây dựng Tháp Chăm
Có giả thiết cho rằng, người Chăm cổ xếp gạch mộc lên thành hình tháp, sau đó đốt gạch nung khô rồi bới đống tro than ra là thành tháp Chăm. Vì thế, những viên gạch tự kết dính với nhau, không có mạch xây ngăn cách như lối xây tường của người Việt.
(Ảnh: wikipedia.vn)
Giả thiết này lập tức bị bác bỏ, bởi những viên gạch mộc chồng lên nhau, làm sao chịu nổi cả một cái tháp lớn nặng hàng trăm tấn?
Giả thiết thứ hai: Một số người Chăm nói là đồng bào ngày ấy xây tháp bằng cách nung gạch. Khi còn nóng, họ lấy một loại lá cây lót trên lòng bàn tay, truyền nhau đặt viên gạch lên trên lá cây đó. Cứ thế, họ xếp gạch lên thành hình tháp.
Khi những viên gạch nguội đi thì chúng đã kết dính bởi nhựa của lá cây đó. Nên giữa các viên gạch không có mạch xây ngăn cách. Còn nhiều giả thiết nữa, nhưng có một giả thiết được nhiều người đồng tình là đồng bào đã dùng dầu rái để gắn những viên gạch lại. Ngày xưa, loại cây này mọc như rừng ở khu vực người Chăm.
Điêu khắc cũng thể hiện nét đẹp hùng vĩ của dân tộc Chăm (Ảnh: Dulichvietnam.com)
(Ảnh: dulichvietnam.com)
 Được Unesco công nhận là di sản văn hóa thế giới, xong những công trình kiến trúc và tác phẩm điêu khắc của người Chăm cho thấy giá trị của nó không chỉ nằm ở giá trị hiện thực, mà hơn hết là cả một câu chuyện có giá trị tinh thần về tín ngưỡng, về niềm tin và cả thông điệp sinh tồn của con người.
Tịnh Tâm – Hà Phương

Xem thêm:

Khám phá bí ẩn về ngọc và nghệ thuật chạm khắc ngọc tinh túy của người xưa

Ngọc trong tiếng Hán là gồm chữ Vương và dấu phẩy trên đầu, ngụ ý rằng ‘ngọc’ biểu thị cho sự giàu sang, quyền quý, uy lực và sự trường tồn. Trong văn hóa của người Trung Hoa cổ xưa, thì chỉ những bậc quân vương, những người giàu có mới mang ngọc trong người. Vậy vì đâu mà ngọc trở nên quý như vậy?
Bí ẩn về ngọc và kĩ thuật chạm khắc ngọc đã có từ cách đây 6000 năm lịch sử. Ngọc ở trong đất sâu thẳm, từ vài nghìn năm đến vài triệu năm, trong ngọc chứa vô số khoáng chất vi lượng, hấp thu linh khí nhật nguyệt tinh thần nên gọi là tinh hoa.
Vẻ đẹp kỳ diệu của ngọc (Ảnh: pixabay.com)
Câu chuyện về ngọc mang theo cả máu và nước mắt.
Khoảng 300 năm trước công nguyên, ở nước Sở, vào thời Lệ Vương, có Biện Hòa là 1 thường dân may mắn tìm được 1 hòn đá tảng, ông ta biết chắc bên trong là loại ngọc cực quý nên đi hiến cho vua để tỏ dạ trung thành. Lệ Vương nhìn thấy hòn đá thô thiển, có ý xem thường, bèn bảo 1 viên thái giám đập ra mài thử xem thật giả. Tên thái giám này sợ Biện Hòa có công dâng ngọc sẽ được sủng ái hơn mình nên bảo là đồ giả, khiến Biện Hòa bị chặt mất 1 chân.
Ít lâu sau, Lệ Vương băng hà, Vũ Vương kế vị. Biện Hòa lại xin vào dâng ngọc, viên quan được vua sai thử ngọc có tư thù với ông nên lại tâu là đồ giả, khiến Biện Hòa bị chặt nốt chân kia. Quá uất hận, Biện Hòa ôm tảng đá, lao đầu vào tường toan tự tử, Vũ Vương ngăn lại, cho người đập vỡ tảng đá, đích thân xem xét phiến ngọc và nhận ra nó cực kỳ quý giá. Nhà vua hối hận nhưng đã muộn, vì Biện Hòa đã tàn phế, máu của ông đã loang đỏ khắp sân triều. Khi quan sát phiến Ngọc từ bên trong có những tia vân như những tia máu của Biện Hòa, nên viên ngọc quý này được gọi là “Biện Hòa bích ngọc” hay “Hoà thị bích” – viên ngọc đẫm máu trong lịch sử Trung Hoa.
Biện Hòa dâng ngọc quý (Ảnh: tinhhoa.net)
Người Trung Hoa cổ đại đã phát hiện ra ngọc có thể trị bệnh và gìn giữ sắc đẹp.
Không chỉ là vật quý hiếm, nhiều người còn cho rằng, ngọc cổ ẩn chứa những công năng huyền bí.
Câu chuyện về ngọc có tác dụng trong điều trị bệnh được danh y Lý Thời Trân nhắc đến trong cuốn “Bản thảo cương mục”… Ngọc gối ở đầu, giúp cho đầu óc được minh mẫn, thanh tỉnh, và đặc biệt giúp chủ nhân có một giấc ngủ ngon do đó xưa kia các bậc đế vương hoàng tộc, thường dùng các khối ngọc quý (phổ biến nhất là mã não) để chế tác thành gối gối đầu, hoặc làm mũ đội… hầu như các vị vua có tuổi thọ cao, đều dùng ngọc làm gối để ngủ để giữ cho họ có một giấc ngủ sâu và trí nhớ minh mẫn..
Lịch sử xưa kia ghi chép về vẻ đẹp giữ mãi tuổi thanh xuân của Từ Hy Thái hậu. Bà giữ được sự tươi trẻ cho đến khi sắp qua đời là nhờ có khả năng kỳ diệu của ngọc thạch.
Từ Hy Thái hậu đã dùng ngọc để giữ nét thanh xuân tới cuối đời (Ảnh: tinhhoa.net)
Bà được một nhà sư Lạt ma bí mật chỉ cho cách dùng ngọc để giữ gìn sắc đẹp. Cách đó rất ly kỳ như sau:

Muốn cho làn da mãi mãi tươi nhuận, dù già mà vẫn không có nếp nhăn thì dùng ngọc trai nấu nhừ, tán nhuyễn, pha với sữa của phụ nữ có con so rồi thoa lên mặt, lên da ở bất cứ đâu mỗi buổi sáng tối như ngày nay phụ nữ thoa kem dưỡng da.

Hoạt chất đặc biệt ở ngọc trai sẽ giúp duy trì sự tươi trẻ. Điều này đã được chứng minh, Từ Hy sau này khi đã trên 60 tuổi nhưng nhan sắc vẫn còn như người ở tuổi thanh niên.
Câu chuyện cũng lưu truyền rằng lúc qua đời ở tuổi 70, nhan sắc của bà vẫn còn tươi tắn. Người ta khẳng định rằng, có được nhan sắc đó là nhờ vào tính năng ưu việt của ngọc thạch. Nguyên là lúc nào trong người của bà Từ Hy cũng mang theo hai viên bạch ngọc thuộc loại quý hiếm nhất, chúng có kích cỡ to bằng quả trứng. Chính các Lạt ma đã bảo đảm với Thái hậu rằng, khi nào bà còn giữ được hai viên bảo ngọc đó trong người thì sinh lực sẽ luôn dồi dào, ngọc sẽ đẩy lùi được mọi bệnh tật…
(Ảnh: aliexpress.com)
Ngọc giữ cho thân thể được nguyên vẹn khi chôn cất.
Trong tập tục chôn cất các bậc vương, quân, những đại quan có chức sắc lớn, người ta thường chôn kèm theo những viên ngọc, sau này giới khai quật mộ cổ vô cùng ngạc nhiên khi trong những ngôi mộ đó, thân xác của người chết được giữ nguyên vẹn, mặc dù họ không thực hiện bất kỳ một chất ướp xác nào. Điều này làm cho giới khoa học không thể lý giải được.
Một trong những ngôi mộ cổ được khai quật gần đây ở miền trung Trung Quốc, người ta tìm thấy có nhiều báu vật trong đó có nhiều ngọc thạch. Có một điều kỳ lạ mà khoa học chưa chứng minh được là: Những huyệt mộ có nhiều ngọc thạch chôn theo xác chết thì điều lạ lùng là các xác chết đó vẫn còn nguyên vẹn dù đã được chôn cất hơn 2.000 năm.
Huyệt mộ chôn xác chết có ngọc sẽ giữ cho thân thể không bị phân hủy (Ảnh: dkn.tv)
Điển hình như trường hợp hoàng tử Xương Ấp Vương Lưu Hạ và vợ là Tôn Vãn thuộc triều Hán đã được chôn cách đây 2.000 năm. Khi khai quật, những người chứng kiến đã vô cùng kinh ngạc bởi hai xác chết vẫn còn nguyên vẹn chẳng khác gì các xác ướp trong hầm mộ của Ai Cập cổ đại. Những ngôi mộ đó rất nhiều ngọc đủ các loại. Sau khi nghiên cứu kỹ, các nhà khai quật cho rằng: Ngọc thạch đã giữ được sự nguyên vẹn của xác chết.
Người Trung Quốc cho rằng, những viên ngọc này là vô giá và cực kỳ linh thiêng bởi chúng không phải là những viên ngọc thông thường mà là những viên ngọc đã thấm máu và linh khí từ cơ thể người, hay nói đúng hơn là đã thấm hồn người chết.
Một điều lạ nữa là: Sau một thời gian dài những viên ngọc được chôn dưới mồ, khi đào lên chúng sẽ có những biến đổi khác thường: bạch ngọc màu trong suốt chuyển sang màu trắng đục hơn và từ bên trong ửng lên những vân màu hồng giống như những sợi chỉ máu. Cẩm thạch từ màu xanh lục biến đổi sẫm hơn ửng hồng như nhuộm với máu. Riêng hồng ngọc, hoàng ngọc, lam ngọc…thì màu sắc cũng có sẫm thêm, nhưng khi đặt dưới ánh mặt trời hay ánh sáng đèn, nó rực lên một thứ ánh sánh lung linh kỳ dị như từ một cõi u minh  mê hồn nào đó.
(Ảnh: china.com)
Ngọc được dùng để trấn yểm, tế thế đất trời
Trong sách Chu Lễ có viết: “Lấy khối ngọc chế tác thành 6 loại đồ ngọc rồi dùng tế trời đất và tứ phương, được gọi là “lục khí”. Dùng Bích tế trời, dùng Tông tế đất; lấy Thanh Khuê để tế phương Đông, lấy Xích Chương để tế lễ phương Nam; lấy Bạch Hổ để tế phương Tây, lấy Huyền Hoàng để tế phương Bắc”.
Hơn 2.000 năm trước, nhà Tây Chu đã bước đầu hoàn thiện và phát triển chế độ dùng ngọc trong các tầng lớp quan lại, quý tộc. Người thời đó đã cho rằng, ngọc là vật quý, hội đủ 5 đức tính cơ bản của con người gồm: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín và do đó, ngọc rất được tôn sùng.
(Ảnh: Vcone shop)
Độ bóng, mịn lâu dài của ngọc tượng trưng cho nhân nghĩa và sự kín đáo của người quân tử.
Độ cứng và trong suốt của ngọc tượng trưng cho phẩm cách trong sáng, cao thượng.
Tầng lớp quý tộc đều đeo ngọc trên người để thể hiện đạo đức và địa vị của mình. Việc sử dụng ngọc cũng dần thể hiện đẳng cấp khác nhau.
Sau đời Đông Chu, đất nước Trung Quốc chia làm hai giai đoạn lớn là Xuân Thu (từ năm 770 trước Công nguyên đến năm 476 trước Công nguyên) và Chiến Quốc (từ năm 403 trước Công nguyên đến năm 221 trước Công nguyên). Trong thời gian gần 600 năm của hai thời kỳ này, nhiều cuộc chiến đã nổ ra giữa các nước chư hầu để tranh giành quyền bá chủ, xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ có nhiều biến động, có nhiều luồng tư tưởng và phong cách nghệ thuật trong việc sử dụng và chế tác ngọc được hình thành, tạo nên sự phong phú đa dạng và một phong cách rất riêng trong kĩ nghệ chế tác đồ ngọc.
(Ảnh: phongthuybenthanh.com)
Ngọc có ý nghĩa quan trọng trong phong thủy
Ngọc và đá quý thạch anh là những khoáng vật kết tinh từ lòng đất, nó kết tụ tinh khí của Thổ. Ngọc và đá quý thạch anh luôn hàm chứa những năng lượng rất mạnh, có dương khí tốt tùy theo từng chủng loại.
Khoa học cũng chứng minh thạch anh có năng lượng dao động nội tại rất mạnh, thường được ứng dụng trong công nghệ vũ trụ và điện tử. Nhưng ngọc và đá quý thạch anh lại là những vật có thể sử dụng để đeo bên mình hoặc trang trí bên trong nhà để gia tăng cát khí.
Ngọc Thạch Anh (Ảnh: phongthuycongty.com)
Trong phong thủy, ngọc và đá quý thạch anh thường được chế tác thành các sản phẩm có ý nghĩa về văn hoá phương Đông như hình các linh vật, tượng thần tài… Ngoài ra, phần lớn các dạng khối hình cầu, hình lục lăng nhọn với các ý nghĩa khác nhau về âm dương và ngũ hành.
Sao Bát Bạch thuộc quẻ Cấn, hành Thổ làm chủ vận trong khoảng từ năm 2004 đến 2023, vì vậy những vật phẩm phong thủy sử dụng bằng ngọc và đá quý thạch anh thời kỳ này càng có vượng khí lớn hơn bao giờ hết. Những cách thức ứng dụng có thể tiến hành cho phù hợp với thuật phong thủy là điều mà được người ta hết sức chú ý.
(Ảnh: tinhhoa.net)
Chạm ngọc là đỉnh cao nghệ thuật, nghệ nhân là những người có trí tuệ đặc biệt.
Vào đời vua Càn Long, nghệ nhân chế tác đồ ngọc Dương Châu đã chạm khắc nhiều tác phẩm ngọc độc đáo với tên gọi ‘ngọc non bộ’, mang hình ảnh thu nhỏ của núi non, đình đài, lầu các vào khối ngọc bằng nhiều kỹ thuật chạm khắc như khắc nổi, khắc chìm, điêu khắc lập thể, chạm rỗng…
Chạm khắc ngọc non bộ là công việc khó nhất trong chế tác đồ ngọc. Nếu không được truyền dạy kinh nghiệm chạm khắc và có công cụ đặc biệt hỗ trợ thì các nghệ nhân khó chạm khắc được hình ảnh đẹp trên khối ngọc lớn. Lúc bấy giờ chỉ có nghệ nhân chế tác ngọc Dương Châu mới có khả năng tạo tác núi non bộ.
(Ảnh: tinhhoa.net)
Đối với chạm khắc ngọc non bộ, thì đòi hỏi người nghệ nhân phải có trí tưởng tượng phong phú, và quan trọng hơn nữa là biết phối hợp và sử dụng màu sắc của mỗi viên ngọc để tạo dáng, thực hiện chạm khắc trên đó. Làm sao bộc lộ được ý tứ non nước trong tầm tay, và tận dụng được vẻ đẹp hoàn toàn tự nhiên từ viên ngọc.
Để chạm khắc được những viên ngọc từ một khối ngọc thô ban đầu, người ta sẽ phải cắt nhỏ, mài, giũa, chạm khắc chi tiết cẩn thận, tỉ mỉ và công phu.
(Ảnh: dwnews.com)
Chính vì vậy mà nghề chạm ngọc là một bí quyết được lưu truyền trong mỗi gia đình qua các thế hệ, bí quyết đó không được truyền ra ngoài. Bởi vậy mà đỉnh cao của nghệ thuật thời xưa vẫn còn được lưu giữ và phát triển tới ngày nay, nó mang những nét riêng và kĩ nghệ riêng của mỗi người, tượng trưng cho một dòng tộc.
Tịnh Tâm

Xem thêm:

Nghệ thuật chạm bạc nổi tiếng của người H’mong: Gà trống đẹp nhất bộ lông, gái Mèo đẹp nhất mũ bạc

Người Miêu, hay Hơ-mông, là nhóm dân tộc thiểu số có lịch sử từ thời nhà Tần, khoảng thế kỉ thứ 3 trước Công nguyên. Các cô gái Miêu thường thích mặc các màu lộng lẫy, phóng khoáng với độ tương phản cao và sắc độ mạnh. Nhiều trang phục may thêu được kết hợp với vô số phụ kiện trang trí lấp lánh trên đầu, cổ và cổ áo. Vòng tay và những phụ kiện bạc đã đạt đến mức nghệ thuật cao đáng ngưỡng mộ, chúng ta cùng tìm hiểu…
Người Miêu nổi tiếng bởi nghề chạm bạc nghệ thuật và hoàn toàn thủ công. (Ảnh: pixabay.com)
Người Miêu nổi tiếng bởi nghề chạm bạc nghệ thuật và hoàn toàn thủ công
Mặc dù lối sống hiện đại hóa của xã hội tác động không nhỏ tới kĩ nghệ của họ, nhưng nghề chạm bạc và những bộ trang phục của thiếu nữ dân tộc Mèo ở Quý Châu, Trung Quốc dường như không hề bị ảnh hưởng, mai một.
‘Gà trống đẹp nhất bộ lông, gái Mèo đẹp nhất mũ bạc’ là câu nói cửa miệng của người dân nơi đây, nhưng để có được một món đồ trang sức cho một người thiếu nữ, những tay thợ tài hoa phải mất cả tháng trời miệt mài, chăm chỉ.
Những chiếc mũ mà những nghệ nhân tài hoa phải mất cả tháng trời làm việc cần mẫn, chăm chỉ (Ảnh: pixabay.com)
Quan điểm của người Miêu về trang sức bạc.
Và đây chính là điểm nổi bật dễ thấy nhất trong trang phục của các thiếu nữ Hơ-mông. Cổ áo của các thiếu nữ có thể mang tới 7 chiếc vòng và nặng tới hơn 2kg.

Trong văn hoá Hơ-mông, bạc thể hiện vị trí trong gia đình, tượng trưng cho sự thịnh vượng và may mắn, và được tin rằng có sức mạnh đuổi tà ma.

Vẻ duyên dáng của cô gái Miêu (Ảnh: pixabay.com)
Họ cho rằng bạc có tác dụng rất lớn trong giữ gìn sức khỏe, không chỉ là xua đuổi tà khí, mà bạc khiến âm khí không thể xâm lấn vào cơ thể. Bạc còn có tác dụng giải và chống độc phong.
Mặt khác, kiểu chế tác và thiết kế của các trang sức bạc mà người Miêu mang bên mình là biểu tượng của sự tôn sùng Thần mặt trời, họ cho rằng, đây là vị thần tối thượng trong đời sống tâm linh, mang lại cho vạn vật sự sống và ánh sáng trong nhân gian.
Bộ trang sức cầu kỳ của người Miêu (Ảnh: dulichtrungquoc.com)
Chính vì vậy mà trong trang phục của người Miêu, thì bạc là trang sức chủ yếu nhất, bạc được đeo trên đầu, cổ, tay, tai quanh eo và cả chân. Người ta ước tính trên có trên 10kg bạc được mang trên người mỗi một bộ trang phục của phụ nữ dân tộc Miêu. Người càng giàu có thì càng mang theo nhiều trang sức bạc.
Nét ngây thơ duyên dáng của những cô gái Miêu (Ảnh: vimeo.com)
Đỉnh cao nghệ thuật chạm khắc bạc của người Miêu-H’mông lại hoàn toàn từ đôi bàn tay thủ công khéo léo
Để cho ra được một sản phẩm cầu kì và tinh xảo qua từng đường nét, người ta phải chú trọng tới từng khâu chế tác.
Khi lò than đã cháy rực hồng người ta bỏ những mảnh bạc vụn vào chiếc nồi đất nhỏ rồi đặt vào lò nấu. Chỉ ít phút sau, dưới sức nóng cả ngàn độ C, bạc trong nồi bắt đầu tan chảy thành thứ chất lỏng đỏ rực.
(Ảnh: YouTube)
Thoăn thoắt bôi dầu vào lòng chiếc khuôn làm bằng ống trúc nhỏ, người thợ dùng kìm kẹp lấy chiếc nồi đã “chín đỏ” trong lò, đổ nước bạc vào lòng khuôn để tạo thành phôi bạc dài theo ý muốn.
Để làm thành chiếc vòng đeo tay truyền thống của người Mông, phôi bạc được đưa lên đe, dùng búa đập để tạo hình tròn hay dẹt, dày hay mỏng, sau đó mới đến công đoạn khó nhất là trạm trổ các hoa văn, họa tiết.
Bằng những chiếc đục sắt đơn giản, nghệ nhân này có thể tạo ra được những hoa văn rất tinh xảo trên nhiều món đồ trang sức như vòng tay, vòng cổ, nhẫn đeo tay, khuyên tai…
(Ảnh: dulichtrungquoc.com)
Chạm trổ hoa văn trên bạc cần một bàn tay khéo léo, tỉ mỉ, sự kiên trì và một trí tưởng tượng phong phú
Việc chạm trổ hoa văn tốn rất nhiều thời gian, đòi hỏi người thợ phải có tính kiên trì, tỉ mỉ, có bàn tay khéo léo, có óc tưởng tượng giỏi mới làm được. Người thợ bạc giỏi khi chạm trổ không cần phải nhìn mẫu, vì các hình ảnh hoa văn, họa tiết đã ở sẵn trong đầu, cứ thế hiện dần ra theo từng nhát đục.
Một tác phẩm được đánh giá về độ tinh xảo qua từng chi tiết chính là chiếc mũ bạc của người Miêu.
(Ảnh: chambac.com)
Sau khi bạc tan chảy trong dụng cụ trên bếp than rực hồng, người ta bắt đầu đổ khuôn bạc. Cắt nhỏ và tán mỏng bạc.
(Ảnh: pp.qq.com)
Tiếp theo là dùng kéo cắt những miếng bạc mỏng thành hình như mình mong muốn.
(Ảnh: pp.qq.com)
Những sợi bạc mỏng manh sẽ được uốn khéo léo thành bông hoa.
(Ảnh: pp.qq.com)
In hoa trên tấm bạc mỏng
(Ảnh: pp.qq.com)
Người thợ bắt đầu chạm bạc sau những khâu tạo hình.
(Ảnh: pp.qq.com)
Sau khi ghép, cắt, in, uốn, dập bạc hoàn thành, người ta bỏ tất cả những thành quả của mình vào nồi đun với một loại lá để làm bạc sáng bóng mà không bị xỉn màu
(Ảnh: pp.qq.com)
Thiếu nữ Miêu với những chiếc mũ bạc được chạm trổ công phu và tinh xảo.
(Ảnh: wiki-travel.com)
Bạn sẽ ngỡ ngàng khi chiêm ngưỡng những tác phẩm tuyệt đẹp hoàn toàn từ đôi bàn tay khéo léo của người thợ. Điều khiến người ta kinh ngạc khi ngỡ tưởng đây phải là một công nghệ cao để sáng chế ra những chiếc mũ này, nhưng trên thực tế, nó được làm hoàn toàn thủ công và công cụ cực kì thô sơ. Chỉ duy có đôi bàn tay và trí óc vô cùng tuyệt vời của người thợ, mà những tác phẩm đã tạo sức hút kì lạ với tất cả những ai được tận mắt chiêm ngưỡng kiệt tác này.
(Ảnh: dulichtrungquoc.com)
Người Mông tại Việt nam không lộng lẫy trong trang sức như người Mông tại Trung Quốc, nhưng tài năng thiết kế và thêu thùa thể hiện trên trang phục và mũ đội đầu của họ cũng không kém phần rạng rỡ.
(Ảnh: vtc.vn)
Có đánh giá cho rằng, những người phụ nữ Mông là những nhà thiết kế trang phục đầy sáng tạo. Trên trang phục của họ là những hoa văn tự thêu, với đủ màu sắc rực rỡ.
Các mẫu thêu trên trang phục người Miêu và các phụ kiện bạc đặc trưng chính là bộ sách giáo khoa về lịch sử của dân tộc này. Họ không những có chữ viết riêng, thay vào đó, họ ghi lại các câu chuyện lên trang phục, bao gồm truyền thuyết về nguồn gốc của tổ tiên và các tập tục thờ phụng.
Có thể nói rằng, dân tộc Miêu là một dân tộc trải qua hàng ngàn năm lịch sử của sự trốn chạy, di cư, suốt cả chặng đường lịch sử của họ, là cả một chiều dài về những câu chuyện của những cuộc hành hương đi tìm vùng đất cho riêng mình.
Khi tìm hiểu về dân tộc họ, chúng ta không khỏi ngạc nhiên và thán phục về những nét văn hóa, những nghệ thuật trong đời sống mà thể hiện rõ nét chính là tác phẩm mà họ mang trên mình, những bộ trang phục và trang sức, phụ kiện mang dấu ấn nghệ thuật nhiều ngàn năm vẫn được gìn giữ. 
Tịnh Tâm

Xem thêm:

Tinh túy nghề truyền thống: Loại thuốc “bí mật” gia truyền giúp nhổ răng không đau, không cần phẫu thuật

Bạn có dám đi nhổ răng ở một “nha sĩ vỉa hè”, người không sử dụng găng tay, không tiến hành gây tê cho bạn, và dùng những dụng cụ trông như bộ đồ nghề của ông nội để lại? Vâng, nếu bạn dám đến đó thì vị nha sĩ truyền thống này sẵn sàng nhổ phắt chiếc răng đau của bạn mà không cần bất kỳ thủ thuật tiểu phẫu nào – Nghe thật là vô lý, nhưng đó lại chính là một di sản của y học cổ truyền Ấn Độ, với công thức bí mật cho loại thuốc mà ông sử dụng đã được truyền lại qua nhiều thế kỷ!

Rattan Singh, mở một “phòng khám răng” nhỏ bên lề đường trong khu chợ Gumat ở thành phố Jammu, miền bắc Ấn Độ. Ông sở hữu một loại thuốc đặc biệt đã được truyền lại trong gia đình ông trong 100 năm qua.
Vào một ngày mùa đông tháng giêng năm 2015, ông Vijay Kumar, 67 tuổi, bước vào “phòng khám” của ông Singh với một chiếc răng bị đau. Rất thành thạo, ông, Singh áp miếng bông nhỏ tẩm loại thuốc tự pha chế của mình vào khu vực xung quanh chiếc răng, và chỉ trong vòng một phút, chiếc răng đau đã rơi ra.
“Không chảy máu và cũng không đau”, ông Kumar nói với Thời báo Đại Kỷ Nguyên: “Tôi thậm chí còn không cảm thấy gì.”
Một Bhatra (nha sĩ truyền thống) thực hành trên đường phố Gumat tại thành phố Jammu, Ấn Độ vào ngày 2 tháng 1 năm 2015. (Venus Upadhayaya / Thời báo Đại Kỷ Nguyên)
Loại thuốc này nhìn thì trong suốt như nước nhưng có mùi rất mạnh, và theo ông Singh, nó có thể cháy như xăng. Ông Singh nói rằng không phải ông ta tự chế ra loại thuốc này, mà là ông nội của ông mới là người đã làm ra nó, và sau nhiều năm sử dụng, đến nay ông vẫn còn lại  khoảng một phần tư lọ.
“Những người khác cũng có loại thuốc này, nhưng họ giữ bí mật lắm“, ông Singh nói.
Rattan Singh, một nha sĩ truyền thống ở thành phố Jammu, Ấn Độ, vào ngày 4 tháng Giêng, cầm một chai thuốc quý hiếm được pha chế từ gần một thế kỷ trước bởi ông nội của ông. (Venus Upadhayaya / Thời báo Đại Kỷ Nguyên)
Singh tự hào nói rằng cha ông cũng đã làm nghề này. “Ông ấy thường ngồi ở ngã tư để phục vụ mọi người. Mọi người dần dần biết đến tiếng ông, và bây giờ chúng tôi chỉ đang tiếp nối di sản đó của cha ông“, ông kể.
Trong khi Singh chủ yếu làm việc ngoài đường phố, không đeo găng tay bảo vệ, và một số “dụng cụ” của ông trông giống như của thợ mộc, nhiều người vẫn đến khám bởi vì các dịch vụ của ông ấy có giá cả phải chăng và việc chữa trị rất hiệu quả.
“Tôi còn có một khách hàng ở tận Delhi”. Ông nói thêm rằng còn có một sĩ quan cao cấp từ Maharashtra (một bang ven biển cách Delhi khoảng 700 dặm về phía tây nam), đã vượt bao dặm đường đến thành phố Jammu này chỉ để khám răng ở chỗ của ông.
Bàn để đồ nghề của một nha sĩ Bhatra nằm trong khu chợ Gumat ở thành phố Jammu phía bắc Ấn Độ vào ngày 3 tháng 1 năm 2015. (Venus Upadhayaya / Thời báo Đại Kỷ Nguyên)
Sau khi nhổ xong một chiếc răng, ông Singh tính tiền cho một phụ nữ chỉ vỏn vẹn có 120 rupi Ấn Độ (tương đương 1,9 đô la). Điều hơi đáng buồn cho ông Singh là, với giá dịch vụ thấp như vậy, ông không thể chỉ sống nhờ vào nghề này.
“Bố tôi đã dặn tôi không được lừa dối ai cả, vì vậy tôi không thể tính giá quá cao“, ông nói. “Vì tôi không tính giá cao, nên tôi không thể kiếm sống chỉ với nghề này.“
Ông Singh hiện có một công ty điện tử nhỏ để nuôi sống gia đình, và có lẽ những kỹ năng chữa răng và “công thức thuốc bí mật” gia truyền từ nhiều thế hệ sẽ bị mất đi trong tương lai.
Tây y khiến khách hàng khốn khó trong việc nhổ răng: quá đau và mất nhiều máu

Cùng với việc từ lâu đã rời bỏ các quầy hàng trên lề phố, giá cả của điều trị nha khoa hiện đại thường vượt khỏi tầm với của những người thường thường bậc trung. Rõ ràng ngay cả trong thế giới hiện đại của chúng ta, nhiều người vẫn vui thích khi đến với các nha sĩ “lề đường” như Singh – và nói một cách ý nhị hơn, việc đảm bảo sẽ được nhổ răng không đau và không tốn tiền có một sức hấp dẫn riêng của nó. Đó chính là nét tinh túy của y học cổ truyền, y học bí mật gia truyền. 
Hầu hết chúng ta sẽ không có cơ hội đến thăm vị nha sĩ truyền thống Ấn Độ này, để trải nghiệm “lọ thuốc bí ẩn” đã trăm tuổi của ông, mà dường như tính hiệu nghiệm của nó đã vượt xa tân dược ngày nay – Thế nhưng, qua đây chúng ta có thể bất giác nhận ra giá trị thực sự cao quý của các di sản cổ xưa trên thế giới này, với vô vàn bí ẩn vẫn đang chờ được khám phá.
Theo Epoch Times Ấn Độ
Hạo Nhiên biên dịch

Xem thêm:

Khám phá văn minh tiền sử: Thành phố Petra bí ẩn tạc trong núi đá – từng là một pháo đài hay thành phố linh thiêng?

Petra – “thành phố cổ tích trong lòng đá sa thạch hồng” huyền bí, huyền thoại đã ngủ quên hơn một nghìn năm qua. Vì sao người xưa lại vất vả tạo ra một thành phố trong lòng đá mẹ như vậy?
Lịch sử từ lâu đã rất im hơi lặng tiếng về đời sống, nghệ thuật và tôn giáo của người Edom (sống khoảng từ thế kỷ 13 – 6 trước CN), Nhưng các nhà khảo cổ đã bắt đầu dần dần vén lên bức màn bí mật lâu đời nhất của thành phố Petra, thủ phủ của những người Edom xa xưa đó.
Khu vực xung quanh Petra không chỉ sản xuất đủ lương thực để đáp ứng nhu cầu cho thành phố của mình mà còn có thể cung cấp các nông sản như ô liu, nho và rượu vang cho hoạt động thương mại
Kể từ lúc Johann Ludvig Burckhardt (nhà địa lý và nhà phương đông học người Thụy Sĩ) khám phá ra di tích Petra vào năm 1812, tư liệu về mục đích của thành phố trong đá này đã bị đem đi giấu kín ở một địa điểm bí mật, từ đó làm đau đầu nhiều học giả, nhà khảo cổ học và khách du lịch muốn hiểu biết về lý do tồn tại của thành phố cổ xưa này.
Vậy chức năng chính xác của nơi này là gì? Có phải đó là một thành phố linh thiêng, một trung tâm thương mại hay là một pháo đài?
Thành phố cổ Petra – với hơn 3.000 ngôi đền, ngôi mộ và hàng ngàn hang động được chạm khắc trực tiếp vào núi đá sa thạch – được xây dựng dưới chân núi Jebel al-Madhbah của Jordan, trong sa mạc khắc nghiệt ở miền nam Jordan và nằm trên núi Mt. Seir, cách Biển Chết 80 km về phía Nam và cao hơn 2.775 feet so với mực nước biển.

Thành phố này được xây dựng bằng cách tạc vào đá mẹ bên trong một hẻm núi dài khoảng 4000 feet và sâu 330 feet (100 mét) – với những cư dân đầu tiên của nó là một bộ tộc người Edom nói ngôn ngữ Xê-mít, được đề cập đến trong Kinh Thánh như là hậu duệ của người Êsau, và là tổ tiên của người Edom ở quốc gia đồi núi Seir.
Sau khi người Edom sụp đổ, người Nabatean đã đến định cư ở đó vào khoảng thế kỷ thứ ba trước CN, và trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ nhất trước CN  đến thế kỷ thứ ba sau CN, Petra đã trở thành một trong những trung tâm thương mại có ảnh hưởng lớn và thịnh vượng nhất trong thời cổ đại.
Phần lớn các tòa nhà nơi đây đã được người Nabatean tạo thành bằng cách chạm đục trực tiếp vào các vách đá núi hoặc chí ít thì cũng là đục đẽo, chỉnh sửa lại các vách đá để tạo hình dáng đẹp đẽ hơn.

Phát hiện gần đây về di tích ruộng bậc thang trồng lúa mì, nho và ô liu cho thấy họ có thể đã tạo ra một “vùng ngoại ô” sản xuất nông nghiệp rộng lớn, với màu xanh lá cây tươi tốt giữa vùng đất khô cằn và khắc nghiệt, là bằng chứng về kỹ năng quản lý nước thành công và phong phú phục vụ cho phát triển sản xuất nông nghiệp xung quanh vùng thành phố Petra.

Kỹ thuật canh nông và thủy lợi đáng nể: tại sao họ có thể tạo ra một vùng trú phú nơi sa mạc khô cằn?
Theo các nhà khảo cổ học đã liên tục nghiên cứu về khu vực này, những người Nabataean đã triển khai kỹ thuật canh nông rất tốt, góp phần tạo ra vương quốc thịnh vượng ở Petra cho đến tận đầu thế kỷ thứ hai.
Việc xây dựng các ruộng bậc thang và đập nước ở khu vực phía bắc thành phố được cho là bắt đầu vào khoảng thế kỷ thứ nhất chỉ cách đây khoảng 2.000 năm, chứ không phải từ Thời kỳ đồ sắt (khoảng 1200-300 trước CN) như theo giả thuyết trước đây.
Dựa vào các kết quả tìm kiếm trên bề mặt và các dữ liệu so sánh thu thập được từ các nhà nghiên cứu khác trong khu vực, rõ ràng là loại hình sản xuất nông nghiệp đó ở Petra vẫn tiếp tục được phát triển trong nhiều thế kỷ tiếp theo, cho đến tận cuối thiên niên kỷ thứ nhất (trong khoảng từ năm 800 đến năm 1000 sau CN).

Theo Christian Cloke, một nghiên cứu sinh tại Đại học Cincinnati, và là một trong những nhà nghiên cứu đã tham gia Dự án Khảo cổ học Petra của Đại học Brown, việc khẳng định được rằng thời điểm bắt đầu của nền canh tác nông nghiệp mạnh mẽ ở Petra rơi vào giai đoạn đầu của thời đại sau CN, có một ý nghĩa lịch sử khá quan trọng.
Đó là, thời gian này trùng với thời điểm sáp nhập của Vương quốc Nabataean kể trên vào đế chế La Mã vào năm 106 sau Công nguyên.
“Không nghi ngờ gì nữa, sự bùng nổ của hoạt động nông nghiệp trong thế kỷ thứ nhất và sự giàu lên nhanh chóng do sản xuất rượu vang và dầu thực vật đã khiến Petra trở thành một miếng mồi cực kỳ hấp dẫn đối với thành Rome”, Cloke nói.

Khu vực xung quanh Petra không chỉ sản xuất đủ lương thực để đáp ứng nhu cầu riêng của mình, mà còn có thể cung cấp ô liu, dầu ô liu, nho và rượu vang cho ngành  thương mại.
Nền sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh mẽ đã làm cho khu vực này trở thành một vùng đất có giá trị trong việc cung cấp nông sản cho La Mã ở biên giới phía đông của đế chế này.
Trên những vùng đất bao la ở phía bắc Petra, cư dân đã xây dựng các hệ thống thủy lợi phức tạp và rộng lớn để chặn lòng sông và chuyển hướng cho lượng nước mưa mùa đông chảy lên các ruộng bậc thang để sản xuất nông nghiệp.
Họ đã gắng sức thu gom và lưu trữ tất cả các nguồn nước sẵn có để sử dụng sau này trong thời gian mùa khô. Như vậy, trải qua nhiều thế kỷ thực hành, người Nabataean ở Petra đã dần trở thành các chuyên gia thủy lợi thực thụ.
Đập trên núi và ống nước này là một phần của hệ thống quản lý thủy lợi phức tạp của quốc gia Petra cổ xưa.
Người Nabatean còn có kiến ​​thức đáng nể về địa hình, khí hậu, cũng như các lưu vực sông có đặc tính khác nhau và các vùng được tưới tiêu xung quanh khu vực cư ngụ của họ.
Viêc cấp nước cho thành phố Petra khi đó là mối quan tâm hàng đầu vì nó nằm ở rìa của một sa mạc. Người Nabatean – cũng là các ‘kỹ sư thủy lợi’ có kỹ năng cao – đã phát triển được các hệ thống thủy lợi, đập nước và bồn chứa nước rất tinh tế.
Nhưng tiếc thay, vào năm 106 sau CN, người Nabatean đã bị người La Mã đánh bại và Petra từ đó đã trở thành một phần của Đế chế này. Và, sau hai trận động đất mang tính hủy diệt vào các năm 363 và 551 sau CN, không còn cư dân nào ở lại với thành phố bằng đá này nữa.
Bằng chứng từ các cuộc điều tra khảo cổ học qua nhiều năm cho thấy rằng thành phố đá Petra kỳ lạ này, qua nhiều trăm năm có người cư ngụ, có thể đã từng đảm nhiệm nhiều chức năng khác nhau; và vì thế vẫn còn nhiều điều chưa biết về di tích cổ kính này đang chờ đợi được tiếp tục khám phá.
Hạo Nhiên

Xem thêm: