Ở đời dù mất tất cả cũng đừng đánh rơi nhân cách làm người

Sống ở trên đời, cho dù đánh mất tất cả thì cũng đừng để mất nhân cách làm người… Nho giáo cho rằng, trong 5 đức tính của người quân tử: “Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín” thì chữ Nhân đứng đầu. Bởi xem trọng đức Nhân, nên người xưa dẫu rơi vào bước đường cùng, …
The post Ở đời dù mất tất cả cũng đừng đánh rơi nhân cách làm người appeared first on Đại Kỷ Nguyên.

Những quan điểm lệch lạc về Giáo dục và Văn hóa truyền thống (P.3): Học tập đâu chỉ là chuyện của con trẻ?

Văn hóa truyền thống bác đại tinh thâm, ẩn chứa rất nhiều điều tinh tuý, rất nhiều trí huệ của cổ nhân. Đáng tiếc là, các giá trị tinh hoa của văn hoá truyền thống đang ngày càng mai một, thậm chí có người còn cho đó là cổ hủ, lỗi thời… Tìm về văn …
The post Những quan điểm lệch lạc về Giáo dục và Văn hóa truyền thống (P.3): Học tập đâu chỉ là chuyện của con trẻ? appeared first on Đại Kỷ Nguyên.

Bí mật cuộc đời Tưởng Giới Thạch: Nếu đời người không có được hôn nhân mỹ mãn…

Nhiều năm đã trôi qua, nhưng Tưởng Giới Thạch vẫn là một nhân vật đặc biệt trong lịch sử cận đại. Sau khi Tôn Trung Sơn qua đời, Tưởng đã hoàn thành sứ mệnh tiếp nối, bước lên vũ đài chính trị với khát khao cháy bỏng… Nhưng hai bên bờ đại lục lại có …
The post Bí mật cuộc đời Tưởng Giới Thạch: Nếu đời người không có được hôn nhân mỹ mãn… appeared first on Đại Kỷ Nguyên.

Điều gì mới thay đổi được vận mệnh con người? 

Nói đến Trương Tam Phong, người ta sẽ nghĩ ngay đến một nhân vật thần bí, là thủy tổ của phái Võ Đang ‘vô hình vô ảnh’, ‘đi lại không vết chân’. Ít ai biết rằng, đối với chuyện xem bói đoán mệnh ông cũng có những lý giải vô cùng thâm sâu. Trong “Minh …
The post Điều gì mới thay đổi được vận mệnh con người?  appeared first on Đại Kỷ Nguyên.

Vợ chồng như hai cánh cửa, âm dương hòa hợp thì trời trong đất lành

Biết bao người mải miết, khắc khoải đi tìm hạnh phúc nơi mái ấm gia đình. Biết bao người thất vọng và bàng hoàng lo sợ cho gia đình bé nhỏ của mình trước làn sóng ngoại tình và những chuyện vợ chồng sát hại lẫn nhau ngoài xã hội. Phải chăng chúng ta đang …
The post Vợ chồng như hai cánh cửa, âm dương hòa hợp thì trời trong đất lành appeared first on Đại Kỷ Nguyên.

Truyền thông Hàn Quốc phỏng vấn dàn diễn viên ‘Cô Ba Sài Gòn’: Tự hào tà áo dài Việt Nam

Tại Liên hoan phim quốc tế Busan, “Cô Ba Sài Gòn” của Việt Nam không chỉ gây tiếng vang lớn mà còn thu hút sự chú ý của giới truyền thông, trong đó có hãng truyền thông Mỹ NTD.tv chi nhánh Hàn Quốc. Phóng viên Hyesoo thuộc chuyên mục Thế giới Hàn Lưu (Hallyu World) đã có buổi gặp gỡ đặc biệt với nhà sản xuất và dàn diễn viên của bộ phim này.
Trang NTD.tv đưa tin, “Cô Ba Sài Gòn” (The Tailor) được so sánh như phiên bản tiếng Việt của “Yêu nữ thích hàng hiệu” (Devil Wears Prada). Đây là bộ phim hài lãng mạn về phụ nữ Việt Nam những năm 1960 trên nền văn hoá và lối sống sôi động của người Sài Gòn xưa. Lịch sử Áo dài cũng là một phần quan trọng trong phim. Đây thực sự là một tác phẩm hiếm hoi của các nhà làm phim Việt Nam hiện đại với tham vọng khôi phục nền văn hoá truyền thống thông qua một trong những biểu tượng của quốc gia – chiếc Áo dài.
Phóng viên Hyesoo thuộc chuyên mục Thế giới Hàn Lưu (Hallyu World) của NTD.tv (hãng truyền thông uy tín của Mỹ) chi nhánh tại Hàn Quốc đã gặp gỡ nhà sản xuất và dàn diễn viên của Cô Ba Sài Gòn. (Ảnh: NTD.tv)
Trong “Cô Ba Sài Gòn”, thế giới thời trang sôi động của Sài Gòn cùng với những chiếc Áo dài là điểm nhấn xuyên suốt qua 48 năm từ năm 1969 đến năm 2017. Phim tập trung vào sự mâu thuẫn giữa bà Thanh Mai (Ngô Thanh Vân), chủ tiệm may Áo dài Thanh Nữ có truyền thống 9 đời, và cô con gái Như Ý (Ninh Dương Lan Ngọc), một “cô Ba” chảnh chọe muốn thoát khỏi truyền thống gia đình để thiết kế và may trang phục phương Tây đang thịnh hành. Bộ phim cho thấy quá trình chuyển đổi của Như Ý, từ việc thay đổi cách nhìn đối với vẻ đẹp của Áo dài trong tương lai, cho đến quá trình gây dựng lại công việc kinh doanh của gia đình đã bị phá hoại.
Thông qua chiếc áo dài và câu chuyện của một nhà may có 9 đời theo nghề, Cô Ba Sài Gòn đã khéo léo làm bật thông điệp về việc gìn giữ nét văn hóa truyền thống và vẻ đẹp của tà áo dài theo thời gian. (Ảnh: sggp.org.vn)
“Cô Ba Sài Gòn” là tác phẩm của Ngô Thanh Vân – Veronica Ngô – nhà sản xuất phim và cũng là diễn viên từng góp mặt trong một số bộ phim bom tấn của Hollywood. Trong cuộc phỏng vấn mới đây với phóng viên NTD.tv, Ngô Thanh Vân cùng dàn diễn viên đã chia sẻ về bộ phim đã thu hút sự chú ý của giới yêu phim Hàn Quốc, bởi khai thác được vẻ đẹp độc nhất vô nhị của chiếc Áo dài Việt Nam.
Người đẹp Việt trong áo dài trên đường phố Busan. (Ảnh: baomoi.com)
Trong buổi phỏng vấn, Ngô Thanh Vân nói:
“Tôi thực sự hy vọng bộ phim sẽ lan truyền thông điệp của chúng tôi về chiếc áo là biểu tượng quốc gia này. Chúng tôi rất tự hào về chiếc Áo dài và các thiếu nữ Việt Nam cũng cùng chung cảm nhận như vậy”.
“Chúng tôi đang cố gắng hết sức để họ có thể hiểu thêm về chiếc Áo dài, rằng nó từng được thiết kế như thế nào và chúng tôi tự hào về nó ra sao… Vì chiếc Áo dài thật đẹp và chúng tôi cần phải làm một điều gì đó để thế hệ trẻ biết về nguồn gốc và truyền thống của mình”.
“Trong phim, Thanh Mai, chủ cửa hàng may mặc nói với cô con gái Như Ý rằng ‘Áo dài là nguồn kinh doanh của gia đình của chúng ta’. Và Áo dài là nguồn gốc của văn hoá Việt Nam và bộ phim”, Ngô Thanh Vân chia sẻ trong buổi ra mắt bộ phim tại Busan.
Dàn diễn viên chính xinh đẹp, nổi bật trong trang phục áo dài chấm bi cổ điển. (Ảnh: tuoitre.vn)
Ngoài ra, bộ phim còn có sự góp mặt của một số diễn viên hàng đầu và đại diện của thế hệ trẻ điện ảnh Việt Nam, như Ninh Dương Lan Ngọc, Diễm My và Oanh Kiều.
Trong cuộc phỏng vấn với Hallyu World, nữ diễn viên chính Ninh Dương Lan Ngọc – được tạp chí này gọi là ngôi sao đang lên của ngành công nghiệp điện ảnh Việt Nam – tiết lộ rằng sau khi trải nghiệm cùng Áo dài trong suốt cả bộ phim, “Cá nhân tôi đã đánh giá chiếc Áo dài cao hơn rất nhiều”.
Dàn diễn viên xinh đẹp và tài năng của “Cô Ba Sài Gòn” cũng có những quan điểm riêng về vẻ đẹp của phụ nữ trong thế giới hiện đại.
Đối với Diễm My, “Đó là sự kết hợp của cá tính người mặc và truyền thống lâu đời. Như trong bộ phim, chiếc Áo dài được kết hợp với phong cách hiện đại nhưng chúng tôi không bao giờ quên và luôn rất tôn trọng truyền thống văn hóa của dân tộc thể hiện thông qua chiếc Áo dài và mối liên hệ giữa các thành viên trong gia đình”.
Và đối với Ngô Thanh Vân, đó là “sự tự tin và hiểu biết bản thân trong bất cứ thứ gì tôi mặc, hoặc bất cứ điều gì tôi nghĩ hoặc công việc mà tôi làm, niềm tin phải là điều đầu tiên và sau đó là vẻ đẹp”.
Sau liên hoan phim tại Busan, đoàn làm phim cũng hy vọng sẽ có nhiều cơ hội để quảng bá phim Việt Nam ra thế giới hơn nữa.
Sở dĩ “Cô Ba Sài Gòn” thu hút được sự quan tâm của giới truyền thông và người yêu phim Hàn Quốc là vì bộ phim có yếu tố thời trang mang dấu ấn lịch sử mà vẫn đáp ứng được yếu tố thẩm mỹ cao. Dưới bàn tay của nhà thiết kế Thủy Nguyễn, thời trang Áo dài của Sài Gòn những năm trước 1975 thật nổi bật. Chiếc Áo dài truyền thống của Việt nam trên màn ảnh rộng chưa bao giờ ấn tượng và tỉ mỉ đến thế.
Một điều đáng trân trọng ở “Cô Ba Sài Gòn” chính là cách bộ phim đưa đến cho khán giả quy trình làm nên một tà Áo dài truyền thống. Ai cũng biết chiếc Áo dài như “quốc hồn quốc túy”, chứa đựng linh hồn của cả dân tộc, nhưng hiếm ai trong chúng ta, trừ nghệ nhân làm nghề, biết rõ cách làm ra một chiếc Áo dài. Và “Cô Ba Sài Gòn” đã cung cấp thông tin vô cùng thú vị này.
Dưới bàn tay của nhà thiết kế Thủy Nguyễn, thời trang áo dài của Sài Gòn những năm trước 1975 thật nổi bật. (Ảnh: saostar.vn)
Bên cạnh việc truyền tải những giá trị nhân văn sâu sắc của tình cảm gia đình và gợi nhớ về cội nguồn dân tộc, đây có lẽ là bộ phim Việt Nam đầu tiên làm được việc dung hòa tính nghệ thuật với tính thị trường trong một tác phẩm điện ảnh, mà vẫn đảm bảo được sự thu hút cũng như tiếng vang của nó tới khán giả trong nước và quốc tế.
Nó mang lại cho chúng ta cơ hội để nhìn lại quá khứ, tìm hiểu lại nguồn gốc của chiếc áo vốn được mệnh danh là biểu tượng của Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.
Chiếc áo dài có nguồn gốc rất xa xưa, ngay trên mặt trống đồng và hiện vật Đông Sơn người ta đã tìm thấy hình ảnh của chiếc áo hai vạt tha thướt. Theo tìm hiểu của các nhà nghiên cứu văn hóa thì những hình ảnh trên mặt trống đồng Đông Sơn (700 TCN – 100 SCN) cho thấy hình người Việt cổ thời đó đã mặc trang phục với hai tà áo xẻ đôi. Loại trang phục này được nữ giới sử dụng phổ biến kéo dài từ năm 2000 trước công nguyên cho tới năm 200 sau công nguyên. Truyền thuyết kể lại rằng khi cưỡi voi xông trận, Hai Bà Trưng đã mặc áo dài hai tà giáp vàng, che lọng vàng. Do tôn kính hai bà, phụ nữ Việt xưa đã có một thời kỳ tránh mặc áo hai tà mà thay bằng áo tứ thân.
Từ triều đại nhà Lý trở đi, trang phục dân tộc Việt Nam cũng giống như nhiều quốc gia lân cận, như Hàn Quốc, Nhật Bản, bị ảnh hưởng bởi Han Fu – kiểu trang phục lâu đời nhất của Trung Quốc nên có nhiều nét tương đồng.
Bước sang thời nhà Nguyễn, trước làn sóng “nhập cư” của hàng vạn người Minh Hương, để gìn giữ bản sắc văn hóa riêng, Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát đã ban hành sắc dụ về ăn mặc cho toàn thể dân chúng xứ Đàng Trong thi hành. Ông vì thế được xem là người có công khai sáng và định hình chiếc áo dài Việt Nam. Trong sắc dụ đó, sự định hình cơ bản của chiếc áo dài Việt Nam đã được ghi lại như sau:
“Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay, cửa ống tay rộng hoặc hẹp tùy tiện. Áo thì hai bên nách trở xuống phải khâu kín liền, không được xẻ mở. Duy đàn ông không muốn mặc áo cổ tròn ống tay hẹp cho tiện khi làm việc thì được phép…” (Trích từ sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên).
Trong Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quý Đôn đã viết: “Chúa Nguyễn Phúc Khoát đã viết những trang sử đầu cho chiếc áo dài như vậy”. Theo đó, có thể thấy chiếc chiếc Áo dài đã ra đời và chính thức được công nhận là quốc phục dưới triều chúa Nguyễn Vũ Vương (1739-1765).
Các mẫu áo cuối thế kỉ 19 đến giữa thế kỉ 20: phần eo được bó lại để làm nổi bật các đường cong. (Ảnh: Nancy Dương)
Bước đột phá táo bạo góp phần hình thành kiểu dáng của áo dài hiện đại là kiểu áo dài “Le Mur” do họa sĩ Cát Tường sáng tạo vào năm 1939. Khác với phom dáng rộng truyền thống, áo dài Le Mur ôm sát đường cong cơ thể với nhiều chi tiết Âu hóa như tay phồng, cổ khoét hình trái tim, đính nơ… Chiếc áo “lai căng” này bị dư luận thời đó lên án mạnh mẽ, nên chỉ có giới tân thời mới dám mặc. Đến năm 1943 thì kiểu áo này dần bị lãng quên.
Những năm 1960, nhà may Dung ở Đakao, Sài Gòn đã đưa cách ráp tay raglan vào áo dài, tay áo được nối từ cổ xéo xuống nách, tà trước nối với tà sau qua hàng nút bấm từ cổ xuống nách và dọc theo một bên hông. Kiểu ráp này vừa làm giảm nếp nhăn ở nách vừa khiến tà áo ôm khít theo đường cong người mặc, vừa giúp người phụ nữ cử động tay thoải mái, linh hoạt hơn. Từ đây, chiếc áo dài Việt Nam hiện đại đã được định hình.
Trải qua nhiều biến động lịch sử, cùng với sự du nhập của khuynh hướng thời trang phương Tây, áo dài đã có nhiều cải tiến theo từng trào lưu nhất định. Tuy nhiên, càng về sau này, chiếc áo càng có xu hướng tôn dáng người mặc, thậm chí một cách thái quá và có lúc trở thành dung tục, gợi cảm quá mức.
Chiếc áo ‘vạn người mê’ của phụ nữ Sài Gòn xưa đầu thế kỷ 20. (Ảnh: tinhhoa.net)
Nhà thiết kế Minh Hạnh đã từng nhấn mạnh về nền tảng văn hóa vững vàng của các nhà thiết kế khi bắt tay vào công việc cách tân áo dài. “Bên cạnh tình yêu với áo dài phải có sự thấu hiểu, sự hiểu biết về áo dài, để thấy trên mỗi tà áo là linh hồn dân tộc, là linh hồn văn hóa. Chỉ khi nhận thức rõ được điều đó, các nhà thiết kế mới ý thức được sự trân trọng trong mỗi thiết kế áo dài”. Theo chị, “khi thiết kế áo dài, điều quan trọng nhất là… linh hồn của chiếc áo”.
“Áo dài là một vật thể có linh hồn. Vẻ đẹp của áo dài được định hình bởi tinh thần dân tộc. Bởi thế, nếu chỉ chú ý đến vẻ bên ngoài của áo dài, đó sẽ chỉ là một vẻ đẹp hời hợt” – NTK Minh Hạnh khẳng định.
Theo tư liệu của GS. Trần Quốc Vượng (Sách “Truyền thống phụ nữ Việt Nam”) cho biết: Vị cố đạo sĩ người Italia, Cristoforo Borri, từng sống ở Việt Nam từ năm 1618 đến 1621, viết về Ký sự Đàng Trong, có đăng trên tạp chí Đông Dương số 4 (1909), đã ca ngợi phụ nữ Việt Nam:

“Tính khí êm dịu hơn bất cứ dân tộc nào khác ở phương Đông”, “ đón tiếp khách khứa rất nồng hậu, mời ăn cơm và coi như bạn bè”. “Tâm tình khoáng đạt, thoải mái”, “dáng đi thong thả uy nghi”, và kết luận: “quần áo của họ có lẽ là kín đáo nhất vùng Đông Nam Á”.

Có lẽ sau một thời gian tìm kiếm, cách tân đủ kiểu dáng, chiếc áo dài đẹp nhất vẫn là nên trở về với nét thuần hậu xưa kia. Áo dài chỉ đẹp và phù hợp được với nhiều phụ nữ Việt nhất khi nó chứng tỏ được khả năng bất biến mà không phải loại trang phục nào cũng làm được: Đó là tôn lên vóc dáng và cái duyên lặn vào trong của người phụ nữ Việt.
Thật may mắn, những năm gần đây, kiểu áo dài không chiết eo quá nhiều, rộng rãi nhưng thanh lịch đã quay trở lại cùng chất liệu gấm, tơ tằm hay vải thô đơn giản mà sang trọng, lịch sự.
(Ảnh: Pinterest)
(Ảnh: Pinterest)
(Ảnh: Pinterest)
(Ảnh: Pinterest)
(Ảnh: Pinterest)
Thế mới thấy, phải vượt qua những thách thức của sự phát triển, những gì tốt đẹp nhất sẽ được chắt lọc và lựa chọn dùng một cách tự nhiên nhất. Những gì còn sống với thời gian luôn là những điều đúng đắn, và văn hóa không phải chỉ của riêng ai, nhất là các nhà tạo mẫu mốt.
Thuần Dương

Xem thêm:

Nghệ thuật hoàn hảo xuất phát từ nội tâm thuần tịnh

Cổ nhân thường giảng: “Tướng tùy tâm sinh, cảnh tuỳ tâm chuyển”. Trong nghệ thuật cũng như vậy, có những bức hoạ được coi là ‘nét vẽ của Thần’, lại có những nhạc phẩm được gọi là ‘âm nhạc từ Thiên đường’. Vì sao lại như vậy?
Âm nhạc mỹ diệu xuất phát từ nội tâm thuần tịnh
Vào thời Xuân Thu, tại nước Lỗ có một bậc thầy về nhạc lý tên là Sư Tương. Khi ông gảy đàn, chim chóc cũng bay lượn theo tiếng nhạc, cá cũng nhảy lên khỏi mặt nước để lắng nghe. Tài nghệ của Sư Tương vượt ra khỏi nước Lỗ, khiến một người yêu âm nhạc là Sư Văn đã không quản ngại xa xôi, lặn lội từ nước Trịnh đến bái Sư Tương làm thầy.
Sư Tương là người thầy nổi tiếng nghiêm khắc, không dễ dàng nhận môn đồ. Sư Văn phải đến khẩn cầu ba lần, cuối cùng Sư Tương vì cảm động trước thành ý và quyết tâm của Sư Văn nên đã chấp nhận dạy nhạc lý cho anh.
Sư Tương dạy Sư Văn phối âm, nhưng ngón tay của anh lại quá cứng, học đến ba năm vẫn không đàn nổi một khúc nhạc hoàn chỉnh. Sư Tương liền nói: “Con vẫn thiếu ngộ tính, học đàn không đủ chuyên tâm, tốt nhất con hãy về nhà đi”.
Sư Văn hối hận tự trách mình: “Không phải con không thể đàn được, cũng không phải con không thể diễn tấu hoàn chỉnh một khúc nhạc. Bởi điều con chú ý không chỉ là âm điệu tiết tấu, mà là dùng tiếng đàn để biểu đạt nội tâm. Khi con không thể làm cho tiếng đàn chuyển tải nỗi lòng, không cảm ứng được nhạc khí (trong hợp với lòng, ngoài ứng với khí), thì con không dám buông ngón tay gảy đàn. Mong thầy cho con thêm thời gian xem có tiến triển không”.
Từ đó, Sư Văn tĩnh tâm lại, thanh trừ tạp niệm, hàng ngày chuyên tâm chăm chỉ luyện đàn, dụng tâm thể ngộ ý tứ mà âm nhạc biểu đạt, không ngừng hoàn thiện tu dưỡng nội tâm mình.
Từ đó, Sư Văn tĩnh tâm lại, thanh trừ tạp niệm, hàng ngày chuyên tâm chăm chỉ luyện đàn, dụng tâm thể ngộ ý tứ mà âm nhạc biểu đạt, không ngừng hoàn thiện tu dưỡng nội tâm mình. (Ảnh minh họa: dkn.tv)
Một thời gian sau Sư Văn lại đến bái kiến Sư Tương, Sư Tương hỏi: “Bây giờ con đánh đàn thế nào rồi?”. Sư Văn trả lời: “Đã chạm đến tâm can, xin thầy hãy nghe con đàn một khúc!”.
Sư Văn bắt đầu buông tay gảy đàn. Đầu tiên anh tấu vào dây Thương thuộc âm Kim, một khung cảnh của tháng Tám mùa Thu hiện ra, khiến người nghe cũng cảm nhận được làn gió thu mát mẻ, cây cối đang sinh trưởng kết trái đơm hoa.
Sau mùa thu vàng óng, anh đàn dây Giác thuộc âm Mộc, tiếng đàn gợi nhớ tháng Hai mùa Xuân, gió xuân ấm áp thổi về, hoa cỏ đâm chồi nảy lộc, đó là hình ảnh của một mùa Xuân với vạn vật canh tân.
Sư Văn lại đàn cung Vũ thuộc âm Thủy, tiếng đàn gợi cảm giác về một mùa Đông lạnh lẽo giữa tháng 11 với tuyết trắng bao phủ, sông hồ đóng băng, khung cảnh xơ xác tiêu điều như hiện ra trước mắt.
Tiếp theo, anh lại tấu cung Chinh thuộc âm Hỏa, tháng Năm như ùa về, trước mắt hiện lên cái nắng thiêu đốt của một mùa Hè rực lửa.
Khi nhạc khúc sắp kết thúc, Sư Văn đàn dây Cung đứng đầu trong ngũ âm, kết hợp với Thương, Giác, Vũ, Chinh, từ bốn phía đều có gió nam thổi nhè nhẹ, những áng mây lững lờ trôi, dường như có một dòng Cam Lộ từ trên trời giáng xuống, dòng suối mát từ trong nguồn chảy ra.
Sư Tương nghe xong liền khen rằng: “Tiếng đàn của con thật tuyệt vời, khiến người ta như đi vào khung cảnh vậy!”.
Sau này Sư Văn là người nổi danh về âm nhạc một thời của nước Trịnh.
Câu chuyện về Sư Văn tầm sư học nhạc cho thấy âm nhạc mỹ diệu bắt nguồn từ con tim. Sự cao siêu của nghệ thuật nằm ở lòng người chứ không phải ở dây đàn, nằm ở chí người chơi đàn chứ không phải ở thanh âm, bởi chỉ có “tâm hồn” mới khởi lên tác dụng chủ đạo trong diễn tấu âm nhạc. Phần kỹ thuật và nhạc lý thì hầu như ai ai cũng có thể nắm được, nhưng để đạt đến cái mỹ diệu cao siêu thì nếu không có nội tâm thuần tịnh sẽ không thể lĩnh hội được đạo lý phi thường này. Do đó, người nghệ sĩ phải dùng chính tâm, chính niệm để đạt được sự thanh tịnh, thuần khiết, thân tâm hòa làm một, mới có thể đạt đến cảnh giới giao hòa cùng trời đất.
Người nghệ sĩ phải dùng chính tâm, chính niệm để đạt được sự thanh tịnh, thuần khiết, thân tâm hòa làm một, mới có thể đạt đến cảnh giới giao hòa cùng trời đất thể hiện sưu tinh tế mỹ diệu của âm nhạc thời xưa. (Ảnh: soundofasia.com)
Điển cố thành ngữ “đắc tâm ứng thủ” (tay chuyển theo tâm) cũng sinh ra từ đây, trở thành một nguyên tắc quan trọng trong diễn tấu âm nhạc cổ đại.
Nghệ thuật làm thay đổi tướng mạo người nghệ sỹ
Có câu chuyện kể rằng, trước kia có một nhà điêu khắc khá điển trai, luôn tự hào về tướng mạo của mình. Nhưng sau một thời gian, anh bỗng thấy mình càng ngày càng xấu xí. Anh đã đi khắp nơi, tìm đến các danh y mà anh biết, cũng đã uống đủ loại phương thuốc khác nhau, nhưng tất cả đều vô hiệu.
Một lần, anh có cơ duyên gặp vị sư trụ trì ở một ngôi chùa nọ. Khi nghe nhà điêu khắc kể về nỗi khổ trong lòng mình, vị sư trụ trì mỉm cười nói: “Bệnh này của thí chủ lão tăng có thể chữa được. Nhưng trước hết, xin thí chủ hãy tạc giúp bổn chùa vài pho tượng Bồ Tát Quán Thế Âm với các thần thái khác nhau”. Nhà điêu khắc nghe vậy rất vui mừng, liền đồng ý với điều kiện của vị sư trụ trì.
Vậy là từ đó, anh ngày ngày chuyên tâm tạc tượng Bồ Tát Quán Âm. Bởi Bồ Tát là hiện thân của thiện lương, thánh khiết, và từ bi, nên nhà điêu khắc phải nghiên cứu không ngừng, thậm chí còn bắt chước các thần thái của Bồ Tát, mới có thể tạc ra được những pho tượng Bồ Tát sống động như thực. Cứ thế, anh miệt mài với công việc đến độ nhiều bữa quên ăn, nhiều đêm quên ngủ, đến mức người nhà cũng phải ngạc nhiên với sự cần mẫn ấy.
Nửa năm sau, anh đã tạc xong các bức tượng một cách mỹ mãn. Có bức là tượng Bồ Tát với dáng vẻ từ bi nhưng uy nghiêm, có bức là Bồ Tát đang cầm bình tịnh thuỷ và cành dương liễu, mắt dõi nhìn thế gian, lại có bức là hóa thân của Bồ Tát trong hình hài một cô thôn nữ tay bưng giỏ cá… Tất cả đều rất đẹp và sống động, tưởng chừng như Bồ Tát đang triển hiện ngay trước mắt anh.
Trở về với hình ảnh Bồ Tát uy nghiêm thần thánh, thì trái tim, tâm hồn anh và thế giới trong anh được hòa mình vào ánh sáng của sự từ bi, diện mạo của anh đã đẹp lên tự lúc nào. (Ảnh: nonnuocart.com)
Đến khi nhà điêu khắc soạn sửa hành trang để đến gặp vị sư trụ trì, anh vô tình nhìn vào tấm gương và bất giác kinh ngạc khi thấy tướng mạo của bản thân mình đã thay đổi tự lúc nào, anh đã trở nên đĩnh đạc, có phong thái, và đẹp lên rất nhiều. Dường như có một con người rất khác trong chiếc gương kia, không còn xấu xí, không còn cau có, cũng không còn khắc khổ như trước đây. Lúc này anh mới bừng tỉnh hiểu ra được nguyên do.
Thì ra cái gốc của căn bệnh “trở nên xấu xí” là vì trước đó anh đã liên tục tạc những bức tượng quỷ Dạ Xoa gớm ghiếc. Trong lúc tạc những bức tượng xấu xí đó, dường như tâm tính và thần thái của anh cũng biến đổi theo, và đó chính là nguyên nhân khiến diện mạo của anh thay đổi.
Chỉ đến khi trở về với hình ảnh Bồ Tát uy nghiêm thần thánh, thì trái tim anh, tâm hồn anh, và thế giới trong anh mới được hòa mình vào ánh sáng của sự từ bi, cứ thế mà tâm tính, diện mạo của anh đã đẹp lên tự lúc nào.
***
Văn hóa cổ xưa, cũng là văn hoá Thần truyền, giảng rằng “Thiên Nhân hợp nhất”, con người và trời đất là tương thông. Trong cuốn “Chu Lễ – Khảo công ký”, cũng viết: “Thiên hữu thời, địa hữu khí, tài hữu mỹ, công hữu xảo, hợp thử tứ giả, nhiên hậu khả dĩ vi lương”, nghĩa là: Trời có thời, Đất có khí, tài vật có vẻ đẹp, người thợ có kỹ xảo, hợp bốn thứ ấy lại sẽ có thể đạt được kết quả tốt đẹp. Vậy cũng nói, nghệ thuật khi vượt khỏi thủ pháp kỹ thuật thì chính là sự biểu hiện của tư tưởng và tinh thần con người. Nghệ thuật xuất phát từ một nội tâm tinh khiết và thuần tịnh mới thật sự là thứ nghệ thuật hoàn mỹ nhất, cũng là thứ nghệ thuật đạt đến đỉnh cao của sự thăng hoa. Vì thế nếu muốn sáng tác nên các tác phẩm có giá trị, thì người nghệ sĩ phải đề cao nhân cách đạo đức của bản thân mình.
Nghệ thuật xuất phát từ một nội tâm tinh khiết và thuần tịnh mới thật sự là thứ nghệ thuật hoàn mỹ nhất, cũng là thứ nghệ thuật đạt đến đỉnh cao của sự thăng hoa. (Ảnh: shenyunperformingarts.org)
Ví dụ như trong quá khứ, rất nhiều hoạ sĩ có tâm kính ngưỡng Thần Phật đã từng nhìn thấy cảnh tượng không gian khác và vẽ nên những tuyệt tác được coi là “nét vẽ của Thần”. Ví dụ như những bức vẽ về Thiên Đàng và Chúa trên vòm nhà nguyện của Thánh đường Vatican đều mang dấu ấn của Thần. Giờ đây khi ngắm nhìn những tuyệt tác ấy, bất cứ ai cũng đều có cảm giác được đắm chìm trong một thứ hào quang thần thánh.
Ngược lại, khi người hoạ sĩ không vẽ bằng nội tâm thuần tịnh, thì tác phẩm sẽ mang màu sắc u ám. Hầu hết những bức danh hoạ theo trường phái ấn tượng, trường phái biểu hiện, và trường phái dã thú, đều được sáng tác khi người nghệ sĩ tiến nhập vào trạng thái điên điên khùng khùng, do đó bản thân bức vẽ cũng gợi lên cảm giác âm u và ma quái.
Cho nên, chỉ khi tư tưởng và tinh thần của người nghệ sĩ được thăng hoa, thì mới có thể mang vào tác phẩm những ý vị thuần thiện, thuần mỹ. Hội họa truyền thống của cả phương Đông và phương Tây đều ca ngợi Phật, Đạo, Thần với những nét vẽ truyền thần, đây thật sự là nghệ thuật chân chính.
Nhã Thanh

Xem thêm: