Hành trình tìm kiếm Đấng Sáng tạo – Phải chăng vũ trụ được tạo ra cho chúng ta?

Các nhà khoa học cho rằng vũ trụ được tạo ra để cho sự sinh tồn và hạnh phúc của nhân loại.
Nhà vật lý Freeman Dyson từng nói: “Cứ như thể là vũ trụ biết con người chúng ta sẽ xuất hiện vậy”.

Liệu có khả năng vũ trụ này được đặc biệt tạo ra cho chúng ta?
Liệu những quy luật vật lý được tinh chỉnh để hỗ trợ chúng ta chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên, hay chúng là một dấu hiệu cho thấy một sức mạnh cao hơn đã tạo ra thế giới này cho nhiều dạng thức của sự sống?
Ảnh: Riddles Of The Universe
Ngày càng có nhiều các nhà khoa học cho rằng Vũ trụ này xuất hiện như thể nó được thiết kế đặc biệt cho sự tồn tại và hạnh phúc của con người. Hiện tượng này, vốn đã thu hút được rất nhiều sự chú ý từ giới khoa học, được gọi là nguyên lý vị nhân (anthropic principle), anthropos trong tiếng Hy Lạp nghĩa là “con người.”
Có nhiều phiên bản khác nhau của nguyên lý này.
Nhà vật lý Don Page đã tóm lược các hình thức khác nhau của nguyên lý vị nhân được đưa ra qua các năm:
-Nguyên lý vị nhân yếu: “Những gì chúng ta quan sát được từ vũ trụ bị giới hạn bởi yêu cầu cho sự tồn tại của chúng ta trong vai trò người quan sát.”
-Nguyên lý vị nhân trung bình: “Ít nhất ở một thế giới… trong rất nhiều thế giới trong vũ trụ, sự sống phải xuất hiện”.
-Nguyên lý vị nhân mạnh: “Vũ trụ phải hội đủ các tính chất điều kiện cho sự sống phát triển tại một vài thời điểm nào đó bên trong”.
-Nguyên lý vị nhân cuối cùng: “Trí tuệ phải phát triển bên trong vũ trụ và sẽ không bao giờ mất đi”.
“Nguyên lý vị nhân đề cập đến khám phá gần đây về một mối liên hệ ấn tượng giữa các quy luật vật lý khách quan của giới tự nhiên và sự tồn tại của sự sống.
Trước đây người ta cho rằng hai lĩnh vực này (sinh học và vật lý học) không có nhiều điểm chung. Một người có thể cho rằng các quy luật sinh học là có liên hệ đến sự tồn tại của sự sống, nhưng chắc chắn không liên quan gì đến các ngành khoa học vật chất (bao gồm thiên văn học, hóa học, khoa học Trái Đất, vật lý học). Hiểu một cách đơn giản, các quy luật vật lý vẫn tồn tại, cho dù sự sống có tồn tại hay không. Trong một thế giới không tồn tại sự sống (thật khó để hình dung), các quy luật vật lý vẫn tồn tại, chi phối và khống chế các vật thể “chết, không sống”. Nhưng bây giờ luận điểm này hiện đã được chứng minh là sai.
Phải chăng vũ trụ được tạo ra cho chúng ta?. Ảnh: Messagetoeagle
Thật vậy, những khám phá khoa học gần đây đã chỉ ra rằng bản thân sự tồn tại của các sinh vật sống có mối liên hệ chặt chẽ với các quy luật của vật lý học, thiên văn học và vũ trụ học,” Giáo sư Nathan Azier viết trong bài báo có tựa đề “ Nguyên lý vị nhân”.
Có một số nhà vật lý ủng hộ lý thuyết này, nhưng đồng thời cũng có những người tin rằng nguyên lý vị nhân chỉ đơn thuần được xây dựng dựa trên một loạt các sự kiện trùng hợp ngẫu nhiên trong vũ trụ.
Vera Kistiakowashy, một nhà vật lý tại Viện Công nghệ Massachusetts (Mỹ) từng tuyên bố rằng cấu trúc tinh xảo vi diệu của vũ trụ là một dấu hiệu hé mở sự tồn tại của một lực lượng siêu nhiên.
“Cái trật tự tinh xảo vi diệu được khám phá ra nhờ vốn hiểu biết khoa học của chúng ta về thế giới vật chất đã mặc định sự tồn tại của một đấng siêu nhiên, của các nhân tố không thể giải thích được, của một đấng sáng tạo” Kistiakowsky cho hay.
John Polkinghorne, một nhà vật lý hạt đã bỏ việc tại đại học Cambridge danh giá để trở thành một linh mục của Giáo hội Anh, cho rằng vũ trụ không chỉ là một thế giới cũ kỹ mà chúng ta lầm tưởng đã nắm vững trong lòng bàn tay, mà nó khá đặc biệt và được tinh thỉnh thích hợp cho sự sống, bởi nó là sản vật của Đấng Sáng tạo và Ngài muốn nó như vậy.
Như chúng ta đã biết sự sống không thể tồn tại trên địa cầu nếu thiếu vắng nguồn nhiệt lượng và ánh sáng từ ngôi sao chủ mặt trời, vốn là nguồn cung năng lượng chính cho Trái Đất. Năng lượng mặt trời có thể là một ví dụ điển hình của nguyên lý vị nhân, một số nhà khoa học cho hay.
Viễn cảnh Trái Đất nếu không có Mặt Trời. Ảnh: greenreport.it
Nếu lực hạt nhân chỉ yếu hơn vài phần trăm, thì một proton không thể kết hợp với một neutron để tạo thành một deuteron. Nếu trường hợp này xảy ra, sẽ không có deuteron nào được hình thành bên trong mặt trời, do đó sẽ không sản sinh năng lượng mặt trời. Kết quả là, mặt trời sẽ không chiếu sáng (“không cháy”), mà chỉ đơn giản là một khối cầu khí ga trơ ì, lạnh giá ngăn cản việc hình thành sự sống trên địa cầu.
Liệu những quy luật vật lý được tinh chỉnh để hỗ trợ chúng ta chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên, hay chúng là một dấu hiệu cho thấy một sức mạnh cao hơn đã tạo ra thế giới này cho nhiều dạng thức của sự sống? Ảnh: ĐKN
Ngược lại ở một thái cực khác, nếu lực hạt nhân chỉ mạnh hơn vài phần trăm, thì mỗi từng proton sẽ nhanh chóng kết hợp với các proton khác, dẫn tới một vụ nổ. Nếu trường hợp này xảy ra, mặt trời sẽ sớm phát nổ (phát nổ và bị tiêu hủy) và do đó cũng ngừng “cháy”, do vậy cũng ngăn cản việc hình thành sự sống trên địa cầu.
Một điều thật phi thường là cường độ lực hạt nhân lại vừa khéo nằm đúng trong khoảng phạm vi hẹp mà tại đó hai viễn cảnh thảm họa trên sẽ không xảy ra”, giáo sư Nathan Azier cho biết.
Điều tương tự cũng áp dụng với nước, vốn là nhân tố cần thiết cho sự phát triển của sự sống, dù rằng không phải là yếu tố tiên quyết để sự sống tồn tại.
Các nhà khoa học hiện nay biết rằng một khoảng thời gian ngắn sau khi được tạo ra, cả 3 hành tinh (trái đất, sao Kim và sao Hỏa) đã có một lượng lớn nước trên bề mặt.
“Các rãnh cắt sâu có thể được quan sát trên bề mặt sao Hỏa ngày nay là các vết xói mòn được hình thành từ rất lâu trong quá khứ nhờ dòng nước nguyên thủy dồi dào, chảy nhanh trên bề mặt sao Hỏa.

Tương tự, sao Kim cũng từng được bao phủ bởi những đại dương rông lớn, sâu với lượng nước sâu lên đến 3 km trên toàn bộ bề mặt.
Tuy nhiên, theo thời gian, tất cả nước trên bề mặt sao Hỏa và sao Kim đã biến mất. Vậy bằng cách nào trái đất đã có thể thoát khỏi số phận tương tự? Câu trả lời rất đơn giản: Trái đất kỳ thực đã thoát khỏi thảm họa này hoàn toàn nhờ “sự ngẫu nhiên!”
Trái đất cách mặt trời đủ xa để lượng nước trên bề mặt không bị bay hơi hay phân hủy, như điều đã xảy đến với sao Kim. Ngoài ra, trái đất cũng đồng thời cách mặt trời đủ gần để giữ cho mức nhiệt độ đủ cao, từ đó ngăn chặn các đại dương đóng băng vĩnh cửu, như trường hợp xảy đến với sao Hỏa,” giáo sư Nathan Azier giải thích trong bài báo của mình.
Từ trái sang phải: Mặt Trời, Sao Thủy, Sao Kim, Trái Đất, Sao Hỏa. (Ảnh: Pinterest)
Cảnh tượng bề mặt trên 3 hành tinh Sao Kim, Trái Đất, Sao Hỏa (lần lượt theo thứ tự gần Mặt Trời nhất). Sao Kim nóng bức do nước bốc hơi, Sao Hỏa lạnh giá nhưng khô cằn. Chỉ có Trái Đất là ở vị trí thích hợp để nuôi dưỡng sự sống. Ảnh: futurism
Trên thực tế, có rất nhiều ví dụ trong tự nhiên có thể hé mở cho chúng ta sự tồn tại của Đấng Tạo Hóa, Đấng Sáng tạo, hay nhà thiết kế vũ trụ. Lấy ví dụ như Isaac Newton, ông là người đưa ra các định luật bất biến tính toán sự chuyển động của các hành tinh và ngôi sao (3 định luật chuyển động và định luật vạn vật hấp dẫn). Ông tin rằng sự tinh mỹ của những công thức này hẳn là minh chứng cho một Thần tích, cũng chính là đã chỉ ra sự tồn tại của Thần. Ông nói:
“Từ trật tự kỳ diệu của các thiên hệ, chúng ta không thể không thừa nhận những điều này chắc chắn được tạo nên bởi những sinh mệnh cao cấp toàn trí toàn năng. Tất cả vạn sự vạn vật dù là vô cơ hay hữu cơ trong vũ trụ đều là từ trí huệ toàn năng của những vị Chân Thần vĩnh sinh tạo nên. Người bao quát hết thảy, đại trí đại huệ; Người hiện hữu trong đại thiên thế giới sắp xếp có trật tự, bao la vô tận, tất cả đều theo chỉ ý của Ngài mà sáng tạo vạn vật, vận hành vạn vật, rồi đem sinh mệnh, hơi thở, vạn vật cấp cho con người; cuộc sống, động tác, tồn lưu của chúng ta, đều thuộc về Người. Vạn vật trong vũ trụ, tất nhiên là có một vị Thần toàn năng đang điều khiển và khống chế hết thảy. Ở dùng kính viễn vọng để tìm đến nơi tận cùng, tôi đã nhìn thấy dấu vết của Thần”.
Issac Newton. (Ảnh: Wikipedia)
Hưng Thành

Xem thêm:

20 tác phẩm nghệ thuật chứng minh UFO đã xuất hiện từ thời cổ đại (Phần 1)

Nhiều bức họa nổi tiếng thời cổ đại có khắc họa các vật thể kỳ dị trông rất giống các UFO
UFO (Unidentified flying object – vật thể bay không xác định) cùng với người ngoài hành tinh (alien, hay ET), là những thuật ngữ thường được dùng để ám chỉ sự sống ngoài Trái Đất, trên các hành tinh khác trong vũ trụ. Những thuật ngữ này mới chỉ xuất hiện và trở nên phổ biến trong đại chúng từ khoảng thập niên 50 của thế kỷ trước.

Tuy nhiên, mấy ai biết rằng, những khái niệm thời cận đại này, nếu dựa trên các tiêu chí hiện nay, đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử cổ đại, từ mấy trăm thậm chí hàng nghìn năm về trước. Dưới đây là danh sách 10 tác phẩm nghệ thuật thời Trung Cổ, miêu tả các vật thể trông rất giống UFO, hay đĩa bay của người ngoài hành tinh.
1) UFO xuất hiện phía bên vai Đức Mẹ
Ảnh: Wikimedia
“Madonna với Thánh Giovannino” là bức tranh từ thế kỷ 15 của danh họa thời Phục Hưng người Ý Domenico Ghirlandaio. Bức họa miêu tả Đức Mẹ đồng trinh Maria đang nhìn xuống hai đứa trẻ với ánh mắt ân cần, trìu mến.
Ở khu vực bên trên vai phải Đức Mẹ, có thể trông thấy lấp ló một UFO hình tròn “dạng đĩa bay”, trông rất giống hình dáng các UFO đường thời.
Ảnh: Wikimedia
2) Các con tàu không gian thời Trung Cổ
Ảnh: tumblr.com
Với tên gọi “Cảnh tượng đóng đinh trên thập tự giá”, bức tranh được vẽ vào năm 1350, và hiện được treo phía trên bệ thờ trong Tu viện Visoki Decani ở Kusovo, Nam Tư cũ. Bức tranh miêu tả hai sinh vật giống người đang di chuyển giữa các vì sao trong một phi thuyền hình cầu, khá giống với một số báo cáo ngày nay về các UFO hình quả sồi trên bầu trời.
Hai phi thuyền hình quả sồi trong ảnh. Ảnh: tumblr.com
Hình chụp một UFO hình quả sồi trên bầu trời khu dân cư Kecksburg, bang Pennsylvania, Mỹ. Ảnh: Cool Interesting Stuff
Hình chụp một UFO hình quả sồi trên bầu trời Phoenix, bang Arizona, Mỹ. Ảnh: Wakonda 666
3) UFO và Đức mẹ
Ảnh: wikipedia.org
Bức họa mang tên “Sự truyền tin, với Thánh Emidius”, được vẽ và hoàn thành vào năm 1486 bởi danh họa người Ý  Carlo Crivelli. Bức họa miêu tả một vật thể giống UFO, phóng một tia sáng màu vàng đến đỉnh đầu của một người phụ nữ, là Đức mẹ Maria.  Bức họa hiện được treo tại Thư viện Quốc gia London. Tuy nhiên, cũng có người cho cái gọi là UFO này chỉ là các đám mây hình tròn đồng tâm.
4) Vật thể bay hình mũ?
Ảnh: therichest
Đây là một bức họa trên tấm thảm thêu từ thế kỷ 14 được treo tại Vương cung thánh đường Notre-Dame ở Pháp. Bức họa miêu tả Đức mẹ Maria (trái), cùng hai người đàn ông thông thái (phải) đang đến thăm Chúa Giê-su khi mới vừa chào đời ở thành Bethlehem. Chúng ta có thể thấy ở phía trên đầu Đức mẹ, hơi nhích một chút về phía bên phải, là một “cái mũ đang bay”, hay một UFO.
5) UFO hình mũ khác bên cạnh Đức Mẹ Maria?
Ảnh: paranormal-news.ru
Đây cũng là một bức họa thảm thêu, với tên gọi “Sự hùng vĩ (The Magnificent)”, được đặt ngay cạnh bên phải bức họa vừa được đề cập đến trước đó. Trong tranh, Đức Mẹ khoác lên mình một bộ trang phục quý tộc, một chiếc áo choàng tím, trên đỉnh đầu Mẹ tỏa ra một vầng hào quang sắc đỏ. Trong khung cảnh phía sau, chúng ta có thể trông thấy một vật thể bay hình nón, hơi nghiêng sang bên trái, dường như đang định bay lên hay phóng xuống.
6) Đức Mẹ thăng thiên sau khi hoàn thành sứ mệnh
Ảnh: The Richest
Bức họa đen trắng được vẽ vào năm 1490 bởi một họa sĩ tên Anon. Bức họa miêu tả cảnh tượng Đức mẹ thăng thiên sau khi hoàn thành sứ mệnh trên Trái Đất – mang thai và hạ sinh Giê-su – Con trai của Chúa. Khi Đức mẹ thăng thiên, xung quanh bà có các đám mây hình thù kỳ lạ trông rất giống đĩa bay, một số có hình hột đậu giống các UFO mà chúng ta vẫn thường thấy trên các show truyền hình.
7) UFO xuất hiện trong cảnh Môi-sê tiếp nhận Mười điều răn từ Thiên Chúa
Ảnh: therichest
Bức họa trên miêu tả cảnh Môi-sê tiếp nhận Mười điều răn từ Thiên Chúa (được khắc vào hai phiến đá) trên núi Si-nai. Trong tranh, có thể nhìn thấy 3 đến 4 vật thể trông rất giống UFO ở khoảng cách xa trên bầu trời, ngang chỗ Môi-sê cầm hai phiến đá.
9) Lễ rửa tội đầu tiên cho Chúa Giê-su
Ảnh: theancientaliens.com
Có niên đại từ năm 1710 và được vẽ bởi danh họa người Bỉ Aert De Gelder, bức họa mang tên “Cuộc rửa tội Chúa Giê-su” là hình dung của tác giả về quang cảnh Chúa Giê-su được rửa tội lần đầu tiên bởi Thánh John Ngưởi rửa tội. Luồng ánh sáng chiếu xuống từ bên trên, bắt nguồn từ Đức Thánh Linh,  được phác họa dưới dạng một đĩa bay UFO. Cũng thật khó để Khẳng định chắc chắn rằng đây là một cái đĩa bay UFO, hay là một loại bánh xe năng lượng xoay tròn.
10) Những đám mây tuyết hay UFO náu mình?
Ảnh: wikipedia.org
Bức họa, với tiêu đề “Điều kỳ diệu của tuyết”, phác họa Chúa Giê-su đứng bên cạnh một người phụ nữ (Mary Magdalene) trên thiên đàng, đang nhìn xuống một nhóm người dân thời Trung Cổ. Trên đầu nhóm người này là các đám mây hình hột đậu, có thể biểu thị cho các cụm mây tuyết như được đề cập đến trong tiêu đề. Điểm kỳ dị là, những đám mây này vừa hay lại có hình dạng rất giống với các UFO.
Ảnh: wikipedia.org
(còn tiếp: 20 tác phẩm nghệ thuật chứng minh UFO đã xuất hiện từ thời cổ đại Phần 2)
Quý Khải

Xem thêm:

Rất nhiều người nhìn thấy cảnh tượng tấn công khủng bố trước ngày 11/9, giấc mơ tiên tri là có thật?

Rất nhiều người trên thế giới có thể nhìn thấy cảnh tượng thảm họa trong giấc mơ trước khi chúng xảy ra.
Trong các sự kiện lớn, chủ chốt trong lịch sử nhân loại, các sự kiện có tác động mạnh mẽ đến tâm lý xã hội nói chung như hai cuộc chiến tranh thế giới, vụ tấn công khủng bố ngày 11/9, hay các thảm họa tự nhiên, thường thấy xuất hiện rất nhiều báo cáo về các trường hợp tiên tri (biết trước sự việc) và khả năng ngoại cảm (khoa học gọi là nhận thức tăng cường, nhận thức siêu thường hay nhận thức bằng giác quan thứ 6).

Giác quan thứ 6 dường như sẽ được kích hoạt khi các thảm họa xảy ra.

Thông thường các cảnh tượng báo trước về một thảm họa tương lai sẽ xuất hiện trong các giấc mơ; nhưng trong những trường hợp khác hiện tượng này có thể xuất hiện khi một người đang rất tỉnh, tại đúng thời điểm sự kiện xuất hiện.

Dường như trong Thế chiến I, từ trên chiến trường, những người lính có thể truyền các thông điệp thần giao cách cảm đến những người thân yêu ở cách xa đó nghìn dặm.

Thần giao cách cảm được hiểu là khả năng truyền ý nghĩa từ xa không thông qua ngôn ngữ hay hành động.
Ảnh: The Epoch Times
Nhà thiên văn học và tác giả người Pháp Camille Flammarion đã thu thập khá nhiều báo cáo trong Thế chiến I về hiện tượng tiên tri và thần giao cách cảm. Trong cuốn sách xuất bản năm 1921 với tiêu đề “Cái chết và Bí ẩn của nó (Death and Its Mystery)”, ông viết:
“Tôi nhận được một lượng lớn các bức thư kể cho tôi nghe về trường hợp những người lính trên chiến trường có khả năng gửi thông điệp đến người thân yêu ở xa cách [hàng nghìn dặm] thông qua phương thức thần giao cách cảm”.
Một trong số các ví dụ được ông đưa ra là trường hợp của “Quý bà D (giấu tên để tránh gây phiền phức cho nhân vật được nói đến)”.
Chồng bà D tham gia chiến trường xa. Đã lâu bà D không nhận được bức thư nào của ông, nên bà đang rất lo lắng. Nỗi lo lắng của bà chỉ phần nào được thuyên giảm khi  bà rốt cục đã nhận được một bức thư của ông vào sáng ngày 25/8/1914.
Buổi chiều hôm đó, bà ngồi nghe em gái đánh đàn piano. Đột nhiên bà đứng dậy, bật khóc thống thiết rồi ngã xuống, bất tỉnh. Lúc đó kim đồng hồ điểm đúng 3 giờ chiều. Khi tỉnh lại, bà cho biết vào đúng khoảng khắc đó, bà bất chợt nhìn thấy cảnh tượng tàn sát đẫm máu trên chiến trường. Thê thảm hơn, bà đã nhìn thấy chính chồng mình đổ gục, ngã xuống, rồi ra đi.
Sau này bà phát hiện ra, chồng bà đã hy sinh vào đúng 3 chiều trong đúng cái ngày định mệnh 25/8 đó.

Người phụ nữ khụy ngã khi nhìn thấy cảnh chồng mình tử nạn trên chiến trường vào đúng thời điểm ông ra đi. Bà đã trực tiếp trông thấy cảnh này.

Ảnh: The Epoch Times
Flammarion đã viết: “Nhiều người có thể không đồng tình với nhận định này. Trong giai đoạn chiến tranh triền miên, không có gì ngạc nhiên khi một phụ nữ trẻ yêu thương chồng mình sợ hãi lo lắng cho sự an nguy của chồng cô. [Do đó, cái linh cảm trực giác bất an trường kỳ đó trên thực tế là tình trạng chung của rất nhiều người giống bà D có chồng ra trận]. Nói cách khác, điểm then chốt của sự kiện này không nằm ở cái linh cảm hay trực giác kia, mà nằm ở sự trùng hợp ngẫu nhiên nhưng chuẩn xác đến kinh ngạc về ngày giờ giữa thời điểm xuất hiện linh cảm trực giác đó và thời điểm xảy ra biến cố tai ương [chồng bà tử nạn trên chiến trường].”
Sự rõ ràng chân thực của cảnh tượng và cú sốc tinh thần mạnh mẽ cũng góp phần phân tách trường hợp này với các giấc mộng mơ hồ hay linh cảm trực giác mờ ảo không thực, Flammarion cho biết thêm
Trong quá khứ, ông cũng đã từng viết về các trường hợp tương tự. Một trong số đó khá ấn tượng:
“Một trường hợp trong số đó thậm chí đưa ra ngày tháng tử nạn khác hẳn so với thời điểm được cung cấp bởi cục quân đội. Thời điểm tử nạn này sau đó đã được xác thực lại là chính xác. Còn thời điểm chính thức được cung cấp bởi cục quân đội ban đầu lại là sai”.

Rất nhiều người có thể cảm nhận được biến cố của một người thân ở xa – Khả năng này được gọi là đồng thấu cảm (simulpathity).

Ảnh: The Epoch Times
TS Bernard Beitman là một bác sĩ tâm thần học từng tu học tại Đại học Yale danh giá. Ông là người chuyên nghiên cứu về các hiện tượng trùng hợp có ý nghĩa. Ông thậm chí đã thiết lập một bộ môn gọi là “khoa học về sự trùng hợp”.
Trải nghiệm trên của các quân nhân trên chiến trường, ông đặt tên cho nó là khả năng “đồng thấu cảm”. Trên thực tế, mối cơ duyên hướng ông đến việc nghiên cứu các hiện tượng trùng hợp xuất phát từ một trải nghiệm đồng thấu cảm của chính bản thân ông.
Một ngày nọ, ông bị nghẹn một cách khó hiểu, mặc dù không hề ăn bất cứ thứ gì lúc đó. Sau này ông phát hiện ra rằng vào đúng thời điểm ông bị nghẹn, bố ông ở cách xa hàng nghìn dặm cũng đang lên cơn nghẹn. Cơn nghẹn định mệnh đó đã cướp đi sinh mạng của bố ông. Tuy nhiên, điều này không hiếm gặp, bởi ông biết được rất nhiều người khác với trải nghiệm tương tự như vậy.

Trong vài ngày thậm chí vài tuần trước thời điểm xảy ra vụ tấn công khủng bố kinh hoàng vào cái ngày định mệnh 11/9, rất nhiều người đã báo cáo có những giấc mơ khủng khiếp (sau này được xác nhận là giấc mơ báo trước tương lai) hoặc có một cảm giác bất an về một thảm họa đang trực chờ.

Quang cảnh vụ tấn công khủng bố vào ngày 11/9/2001. Ảnh: radioalfurqaan
Ngày 9/9/2001, tức trước sự kiện thảm họa đúng 2 ngày, chàng thanh niên trẻ 29 tuổi Andrew Bailey lúc đó đang ngủ đột nhiên la hét ầm ĩ. Sau khi tỉnh dậy, anh cho biết mình đã gặp phải một cơn ác mộng, trong đó Thần Chết đến đón anh đi.
Hai ngày sau, tức đúng vào cái ngày 11/9 định mệnh, Bailey đã bỏ mạng trong tòa Tháp đôi Trung tâm Thương mại Thế giới.
“[Trước hôm đó], Andrew luôn bảo tôi rằng anh sẽ chết trước tuổi 30”, vợ anh, cô Miosotys Fernandez, chia sẻ với tờ Birmingham Mail.
Sau này, khi cô dọp dẹp góc tủ của chồng, cô đã bị sốc. “Tất cả đồ dùng cá nhân của anh đều nằm ở đây, ví tiền, đồng hồ, thẻ tín tụng – những thứ anh thường mang theo khi đi làm. Như thể anh biết được sau buổi sáng hôm đó anh sẽ rời xa tôi mãi mãi”, cô Fernandez cho hay.
Bonnie McEneaney, người cũng có chồng qua đời trong vụ tấn công khủng bố ngày 9/11, nhớ lại một trải nghiệm tương tự. Cô đã nói chuyện với rất nhiều gia đình khác cũng mất người thân trong vụ tai nạn và phát hiện rất nhiều người trong số họ (người đã khuất hoặc người thân của người đã khuất) cũng có các giấc mơ báo trước về vụ tai nạn này. Sau khi tập hợp các thông tin liên quan, cô đã nghiên cứu và xuất bản một cuốn sách về hiện tượng kỳ lạ này với tiêu đề “Các thông điệp: Dấu hiệu, Chuyến thăm và Điềm báo từ những người thân bị bỏ mạng trong ngày 11/9 (Messages: Signs, Visits and Premonitions from Loved Ones Lost on 9/11)”.

Khi tháng 9 đến gần, chồng cô đột nhiên trở nên căng thẳng và cho biết có lẽ anh sẽ sớm phải ra đi.

Chồng cô, Eamon McEneaney, luôn nói với cô rằng có lẽ anh sẽ phải chết trẻ, rằng anh sẽ không sống sót quá lâu sau năm 2000. Khoảng vài tuần trước ngày 11/9, anh trông có vẻ căng thẳng rõ rệt, cô trao đổi với tờ Daily Mail. Anh từng chia sẻ với cô về khả năng xảy ra một vụ tấn công khủng bố khác vào Tháp đôi Trung tâm Thương mại Thế giới (tòa tháp phía bắc – tháp số 1 từng bị đánh bom vào năm 1993).
Trong khoảng thời gian này, anh thường xuyên dặn dò cô, “Tốt nhất em nên nghiêm khắc hơn với lũ trẻ. Bởi vì một khi anh không còn nữa, có thể em sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn hơn trong cuộc sống”.
“Nếu các trường hợp này được nhìn nhận một cách riêng biệt đơn lẻ, thì rất nhiều trong số chúng có thể bị coi như một sự trùng hợp ngẫu nhiên hay là [ảo giác sinh ra] do ảnh hưởng tâm lý của một nỗi thống khổ quá to lớn. Tuy nhiên bởi lẽ rất nhiều gia đình các nạn nhân trong vụ 11/9 đã trải qua một hiện tượng tương tự, nên việc bác bỏ nó trở nên không hề dễ dàng”, cô viết.
Hiệp hội Nghiên cứu Tâm linh Hoa Kỳ đang tiến hành thu thập các báo cáo về điềm báo, dự cảm hay giấc mơ về sự kiện 11/9, tuy rằng cho đến nay Hiệp hội chưa công bố bất kỳ kết quả nghiên cứu nào.

Rất nhiều người đã báo cáo một giấc mơ tiên tri về thảm họa khai thác mỏ ở xứ Wales (thuộc Vương quốc Anh) đã khiến hơn 100 em học sinh thiệt mạng.

Các nhân viên cứu hộ tại hiện trường đổ nát của Trường Trung học Pantglas tại Aberfan, miền Nam xứ Wales, nơi một mỏm than đã đổ sụp, cướp đi tính mạng của hơn 190 học sinh và thầy cô giáo. Ảnh: Keystone / Getty Images
Người dân làng khai mỏ Aberfan ở xứ Wales tham dự đám tang tập thể của các em học sinh và giáo viên đã bỏ mạng trong vụ sạt lở vùi lấp trường trung học. Ảnh: George Freston / Getty Images
Vào thập niên 60, nhà tâm thần học người Anh, TS. J.C. Barker đã thu thập báo cáo về trường hợp các giấc mơ dường như dự đoán chính xác thảm họa khét tiếng tại làng Aberfan. Một mỏ than đã đổ sập tại làng Aberfan ở xứ Wales, khiến hơn 100 em học sinh thiệt mạng.
Thông qua các báo đài, Barker đã đề nghị mọi người liên hệ với ông nếu bất kỳ ai từng có giấc mơ báo trước về thảm họa này trước khi sự việc xảy ra. Tổng cộng, ông đã nhận được 76 báo cáo, 24 trong số đó có thể xác thực được.

Trong mơ, một người phụ nữ nhìn thấy một “thác than” đổ xuống dọc theo sườn núi.

Các công nhân cứu hộ dọn dẹp rác và bùn vào ngày 22/10/1966, gần đống đổ nát của trường trung học Pantglas ở Aberfan, miền nam xứ Wales, nơi một mỏm than sụp đổ khiến vô số trẻ em thiệt mạng. (Keystone / Getty Images)
Chẳng hạn, giấc mơ với bằng chứng mạnh mẽ nhất về khả năng dự cảm là của một người phụ nữ 47 tuổi từ Plymouth, Anh. Trong mơ, cô đã nhìn thấy một “thác than” đổ sập xuống dọc theo sườn núi. Cô biết nơi đó là xứ Wales. Ở dưới chân núi cô nhìn thấy một cậu bé đang đứng, nét mặt cậu dường như trông rất kinh hãi trước cảnh tượng trước mặt. Nhưng sau đó cậu bé đã được giải cứu. Cậu bé đứng gần một nhân viên cứu hộ với chiếc mũ nhọn trông khá kỳ lạ.
Sau thảm hoạ, bản tin của Anh cho thấy cậu bé này và chính nhân viên cứu hộ đó với chiếc mũ bất thường. Barker đã nói chuyện với một vài người quen của người phụ nữ đó, những người đã được cô kể về giấc mơ trước thời điểm mỏ than sụp đổ. Họ xác nhận cô ấy đã kể cho họ các chi tiết rất chính xác trước khi sự việc xảy ra.
Một nghiên cứu khoa học kéo dài 17 năm đã đo lường khả năng tác động vật lý của ý thức tập thể toàn cầu trong các sự kiện lớn, chủ chốt (rất nhiều người tập trung suy nghĩ vào một chủ đề hay sự kiện).
Tư tưởng con người có thể tác động đến sự phát sinh các biến cố ngẫu nhiên. Ảnh: The Epoch Times
Dự án Ý thức Toàn cầu (Global Consciousness Project), dẫn đầu bởi TS. Roger Nelson, đã được triển khai từ năm 1998 nhằm thử nghiệm giả thuyết cho rằng một loại trạng thái cảm xúc tăng cường trên phạm vi toàn cầu trong các sự kiện lớn, chủ chốt sẽ tạo nên tác động vật lý trong đời thực. Lấy ví dụ, nếu rất nhiều trên thế giới tập trung suy nghĩ vào việc hoàn thành một việc nào đó, và chỉ đơn thuần tập trung suy nghĩ chứ không làm gì cả, thì chỉ riêng cái hành động “tập trung suy nghĩ” đó của rất nhiều người tự nó đã có thể có tác động rất thực tại đến thế giới vật chất bề mặt này. Điều này khó tin, nhưng là thật. Khả năng tác động lên vật chất bằng ý thức được gọi là telekinesis/psychokinesis, một thí dụ đơn giản nhất trong đó là khả năng di chuyển đồ vật từ xa.
Công năng dịch chuyển đồ vật từ xa. Ảnh: phoenixisrisen
Đây là cách ông dùng để kiểm tra khả năng telekinesis toàn cầu trong các sự kiện mang tính toàn thế giới: Kết quả các thí nghiệm trước đây tại Đại học Princeton đã cho thấy tâm trí con người có thể có một tác động vật lý đến các máy tạo biến cố ngẫu nhiên. Những máy này giống với máy tung đồng xu điện tử. Có 50% khả năng đồng xu sẽ hiển thị mặt sấp (tail – T), 50% khả năng còn lại đồng xu sẽ hiển thị mặt ngửa (head – H).
Nếu một người tập trung tư tưởng muốn đồng xu lật mặt sấp và mặt sấp xuất hiện trong 80% số lần (lớn hơn xác suất 50%), khi đó sẽ chỉ có một cách giải thích khả thi, chính tâm trí người đó sẽ tạo nên tác động vật lý đến đồng xu khiến nó cho ra kết quả như vậy. Bởi lẽ theo nguyên lý xác suất thống kê, khi số lần tung đồng xu càng nhiều, thì tỷ lệ số lần xuất hiện của mặt sấp hoặc ngửa sẽ tiệm cận và càng tiến đến gần hơn đến tỷ lệ xác suất chuẩn, hay giá trị kỳ vọng (tức 50%). Do đó, khi có sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ xuất hiện của mặt (sấp hay ngửa) so với tỷ lệ xác suất chuẩn (80% so với 50%), thì hẳn phải có nhân tố tác động bên ngoài nào đó khác, và trong trường hợp này nó chính là sự tập trung tư tưởng của con người.  Đây là một minh hoạ đơn giản cho cơ chế hoạt động của cỗ máy.
Ý tưởng của Dự án Ý thức Toàn cầu là thiết lập các máy tạo biến cố ngẫu nhiên và quan sát xem liệu chúng có sai khác, có thiên lệch khỏi sự may rủi đơn thuần (tính bằng tỷ lệ xác suất chuẩn) trong các sự kiện lớn, chủ chốt qua nhiều năm hay không. Có. Nó thật sự có sự sai khác, thiên lệch.
Ảnh: blogwyrm

Vậy nhân tố đứng đằng sau sự thiên lệch này là gì? Chính là sự tập trung tư tưởng của một quần thể người đông đúc, trên quy mô toàn cầu vào một đối tượng chung, cụ thể.

Nhưng một tuyên bố của TS Nelson trên trang blog của Dự án Ý thức toàn cầu (GCP) công bố kết quả năm ngoái:
“Kết quả là một sự khẳng định rõ ràng về một giả thuyết phổ biến … rằng các sự kiện lớn, chủ chốt trên phạm vi toàn cầu mà đã nhích mọi người lại gần nhau thông qua những suy nghĩ tương đồng và những cảm xúc đồng bộ, là có liên hệ [mạnh mẽ] với những thay đổi được ghi nhận trong biểu hiện của mạng lưới các nguồn thông tin ngẫu nhiên”.
Hãy thử lấy ví dụ là sự kiện 11/9 để hiểu rõ hơn câu nói trên của TS Nelson. Vụ khủng bố 11/9 là một sự kiện lớn, chủ chốt bởi vì nó là vụ tấn công khủng bố có mục tiêu của nhóm khủng bố Hồi giáo al-Qaeda chống lại Hoa Kỳ.
Sự kiện 11/9 có quy mô toàn cầu, bởi lẽ thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, thông tin về nó đã được lan truyền rộng khắp trên thế giới, đến gần như mọi ngõ ngách trên hành tinh. Và hệ quả tất yếu là rất nhiều người trên thế giới sẽ nghĩ đến nó (suy nghĩ tương đồng), có cảm xúc giống nhau (cảm xúc đồng bộ) về nó, ví như sợ hãi, lo lắng, chấn động, hoang mang v.v… Nói cách khác, khi sự việc xảy ra rất nhiều người trên thế giới sẽ đồng thời tập trung suy nghĩ và xúc cảm của họ cho sự kiện này. Và chính cái sự tập trung tinh thần và xúc cảm cao độ một cách đồng thời cho một sự kiện lớn, chủ chốt mang tính toàn cầu này, sẽ tạo nên một tác động vật lý (sự thay đổi được ghi nhận) lên thế giới vật chất thực tại bên ngoài (biểu hiện của mạng lưới các nguồn thông tin ngẫu nhiên).
Khi nhiều người chia sẻ cùng suy nghĩ và cảm xúc, nó sẽ tạo ra một tác động đến thế giới vật chất bên ngoài. Ảnh: Lolloj/iStock
Có người có thể băn khoăn, nếu những giấc mơ tiên tri này là thật, thì nó có thể giúp cảnh báo trước thảm họa. Sẽ thật tệ nếu không thể nắm bắt được cơ hội “thoát nạn” có một không hai. Phải làm sao để phân biệt được những giấc mơ dạng này?.

Trên thực tế, thông thường khi sự việc đã xảy ra rồi thì chúng ta mới nhận thức được chúng. Và chúng ta không nên tự trách bản thân nếu trực giác mách bảo có điều gì đó tồi tệ sắp xảy ra nhưng chúng ta lại không thể ngăn chặn được nó.

Nhà thần kinh học nhận thức TS. Julia Mossbridge là một người chuyên nghiên cứu các giấc mơ báo trước tương lai. Bà chia sẻ rằng, khi bà có tổ chức các buổi nói chuyện về chủ đề này, thi thoảng bà gặp một loại trường hợp sau. Có ai đó trong khán giả sẽ đứng lên và nói rằng, anh ta đã mất đi người thân yêu trong một trường hợp xuất hiện giấc mơ tiên tri như vậy. Anh ta tỏ ra buồn bã và nói, “Có phải cô đang ám chỉ rằng đáng lẽ ra tôi nên biết trước điều này, đáng lẽ ra tôi có thể hiểu được ý nghĩa của giấc mơ dạng này, và đáng lẽ ra tôi đã có thể ngăn chặn nó xảy ra?”.
Nhưng anh ta không sai, bởi thực ra không phải vậy. Những linh cảm thường mơ hồ, không rõ ràng, và cũng dễ hiểu, dễ thông cảm khi mọi người đinh ninh rằng các giấc mơ của họ chỉ đơn thuần là các giấc mơ. Mossbridge thường sẽ phản hồi, chấn an người đó như sau:
“Anh có biết các kí ức trong bộ não mình mờ nhạt và “dễ quên” đến mức độ nào không?”, Mossbridge hỏi. “Kí ức vốn dĩ đã mờ nhạt rồi, thứ linh cảm trực giác này còn mờ nhạt hơn. Thứ linh cảm này, phần lớn mọi người thậm chí còn không biết rằng họ sở hữu một phần nhỏ khả năng đó. Nếu tự trách mình, thì chẳng khác gì bạn đặt mục tiêu thiết lập kỷ lục chạy một dặm trong bốn phút (quy đổi thành tốc độ trung bình khoảng 24km/h) vậy.”
Đại Kỷ Nguyên tiếng Anh
Ngự Yên biên dịch

Xem thêm:

Đâu là bản chất đích thực của con người? (P3): ‘Trí tưởng tượng quan trọng hơn cả kiến thức’

Tiếp phần 1, phần 2
Ảnh: PVHg
“Thực ra toàn bộ toán học là hình học” (Gottlob Frege)

Có thể nói những chương trình computer dành cho Deep Blue 1997 và Thí nghiệm Turing năm 2009 là những kiệt tác của khoa học AI (Trí thông minh nhân tạo). Chúng không chỉ thúc đẩy khoa học “computer” vươn tới những phép lạ, mà quan trọng hơn về mặt triết học nhận thức chúng hé lộ cho chúng ta thấy rõ hơn tính người thực sự nằm ở đâu – tính người không “trú ngụ” nhiều ở những nơi computer có thể xử lý, mà nằm ở những nơi computer bất lực!
Lynn Fancher, Phó GS Sinh học tại Đại học College DuPage, Glen Ellyn, Illinois, Mỹ, trong bài báo “The Limitations of Science”[1] (Hạn chế của khoa học) đã nêu lên 3 lĩnh vực mà khoa học không thể trả lời, cũng tức là 3 lĩnh vực mà computer bất lực:
Một: Khoa học không thể trả lời những câu hỏi về giá trị. Chẳng hạn, không thể trả lời câu hỏi “Hoa Hồng hay hoa Cúc đẹp hơn?”, hoặc “Vàng hay thép giá trị hơn?”[2].
Hai: Khoa học cũng không thể trả lời những câu hỏi về đạo đức. Vấn đề quyết định xem cái gì là thiện hay ác, đúng hay sai, nằm ngoài phạm vi khoa học.
Ba: Khoa học không giúp chúng ta trả lời được những câu hỏi liên quan tới những khái niệm siêu-tự-nhiên (supernatural). Thí dụ: Không thể chứng minh hoặc phủ nhận sự tồn tại của Thượng đế.
Vậy phải tìm câu trả lời cho ba lĩnh vực trên ở đâu?
Hãy tìm trong văn chương, thơ ca, nghệ thuật, âm nhạc, triết học, … Đây mới thật sự là những lĩnh vực nhận thức “người nhất”, giàu tính nhân văn nhất!
Kết luận trên tuy không mới mẻ nhưng trong bối cảnh của nền văn minh kỹ trị ngày nay, khi các khoa học vật chất đã và đang chiếm địa vị lấn át, tư duy hình thức sáo rỗng đang lấn át tư duy cảm xúc, tư duy máy móc đang lấn át tư duy nhân văn, thì sự khẳng định những giá trị người nhất của con người mang một ý nghĩa cứu tinh!
Nó báo động cho chúng ta biết rằng nền văn minh kỹ trị đang đi nhầm đường!
Nó kêu gọi loài người hãy tỉnh thức khi còn kịp để cứu vãn cỗ xe văn minh khỏi lao xuống vực thẳm của chiến tranh, tội ác, đói nghèo, ô nhiễm môi trường, hâm nóng khí quyển, tàn phá sinh thái, tha hoá đạo đức, vô cảm trước nỗi đau, …
Nó khuyến dụ chúng ta hãy điều chỉnh nền giáo dục trở về với mục tiêu nhân văn!
Nó dạy chúng ta rằng hãy sử dụng computer như những tên nô lệ đắc lực thay vì tôn chúng lên thành những ông chủ!
Nó đánh động lương tri của mỗi chúng ta, nhắc bảo chúng ta cái gì mang tính người nhất trong chúng ta để chúng ta hướng tới những giá trị người nhất ấy mà sống!
Vâng, cái làm cho chúng ta thực sự trở nên người là những giá trị thuộc về phần hồn [3] (the soul), bởi linh hồn là một cái gì đó liên hệ rất nhiều tới thơ ca, nghệ thuật, văn chương, âm nhạc, v.v.
Khi con người đang sống, linh hồn luôn luôn gắn bó với thể xác nhưng nó không phải là thể xác. Ngay từ thế kỷ thứ 5 TCN, nhà triết học Hy Lạp Socrates đã cho rằng linh hồn là một cái gì đó “vượt quá” thể xác (transcended the body) – một cái gì đó phi vật chất và siêu việt hơn vật chất – trong khi nhiều người cùng thời với ông cho rằng linh hồn được tạo bởi một dạng vật chất tinh tế nhất và lơ lửng trong không khí.
Trong thời đại ngày nay, có người ví phần hồn và phần xác của con người tương tự như phần mềm và phần cứng của computer. Theo đó, phần mềm của computer tuy “không cứng” nhưng nó vẫn là vật chất có thể nhìn thấy được, và theo một số lý thuyết về năng lượng tinh thần thì linh hồn là một dạng vật chất siêu hình hoặc vô hình, vô ảnh, vô tượng, vô lượng[4],… Dù vậy với trình độ của khoa học kỹ thuật hiện nay, việc kiểm chứng sự tồn tại của linh hồn còn khó gấp bội so với việc kiểm chứng “vật chất tối” (dark matter) và “năng lượng tối” (dark energy) trong vật lý ngày nay. Phương trình trường của Einstein có thể đã ngầm chứa khái niệm năng lượng tối, nhưng liệu có thể có một phương trình nào chỉ ra sự tồn tại của linh hồn hay không?
Tuy nhiên, những nền văn minh lớn nhất từ xa xưa đã tin vào sự hiện hữu của linh hồn, thậm chí người ta còn bàn cãi linh hồn nằm ở đâu, và quan trọng nhất, người ta cho rằng phần hồn mới là phần mang tính người nhiều nhất!
Thật vậy, người Ai Cập cổ đại tin rằng linh hồn nằm trong trái tim. Bằng chứng là các xác ướp Ai Cập đều giữ lại quả tim, trong khi mọi bộ phận khác của cơ thể đều bị loại bỏ, kể cả bộ não – bộ não không quý bằng trái tim, tư duy không quý bằng cảm xúc, sự khôn ngoan không quý bằng những rung động tinh thần! Tóm lại, người Ai Cập cổ đại cách đây hàng ngàn năm đã thấy linh hồn là thành phần mang tính người nhiều nhất – cái mà mấy ngàn năm sau nền văn minh kỹ trị đã và đang dần dần lãng quên.
Sự lãng quên này có nguồn gốc sâu xa là chủ nghĩa duy lý (rationalism) và chủ nghĩa thực chứng (positivism) – những chủ nghĩa cho rằng tất cả những gì không thể chứng minh hoặc không thể kiểm chứng đều không đáng tin. Linh hồn là một khái niệm dựa trên niềm tin nhiều hơn là chứng minh hoặc thực chứng, vì thế sự tồn tại của linh hồn không đáng tin. Ngược lại, thể xác là cái hiện hữu có thể kiểm chứng được, do đó mối quan tâm tới con người trước hết phải là quan tâm tới thể xác. Nhu cầu ăn uống, sinh tồn là nhu cầu thiết thực, trong khi nhu cầu thoả mãn phần hồn là nhu cầu viển vông, hư vô chủ nghĩa. Đó là nguồn gốc sâu xa dẫn tới sự xói mòn các giá trị nhân văn trong những thế kỷ sau này, đặc biệt trong thế kỷ 20 – thế kỷ bùng nổ của khoa học và công nghệ, dẫn tới sự thống trị của tư duy lý tính – tư duy Descartes.
René Descartes (1596-1650), cha đẻ của Hệ toạ độ Descartes và Hình học giải tích, một trong những ông tổ của chủ nghĩa duy lý, người có ảnh hưởng bao trùm lên tư duy hiện đại với câu châm ngôn nổi tiếng: “Cogito ergo sum” = “Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại”.
Ông không nói “Tôi cảm thấy…”, “Tôi nghiệm thấy…”, “Tôi nhận thấy…”. Không! “Tôi tư duy…” , mà là tư duy lý lẽ, tư duy chứng minh, tư duy biện luận, tư duy giải thích, tư duy phân tích, …
Ông không chỉ nói, mà hành động để chứng minh tư tưởng của ông là chân lý: Hình học Euclid dựa trên những chứng minh trực giác được thay thế bằng Hình học giải tích – suy diễn dựa trên cảm nhận trực giác được thay thế bằng những biến đổi thuần tuý đại số, cảm nhận mang tính người được thay thế bằng tư duy tính toán (mà ngày nay ta gọi là tư duy computer). Đó chính là điều đang diễn ra trong nhà trường nhưng các nhà giáo dục không ý thức được rằng họ đang biến con người thành những chiếc computer! Điều này sẽ được phân tích kỹ hơn trong một bài viết tiếp theo, còn bây giờ xin hãy quay lại với Descartes.
Ảnh: PVHg
Bản thân Descartes là một nghịch lý: Trong khi chủ trương duy lý, nhưng ông lại tin vào sự tồn tại của những thứ không thể chứng minh được. Thật vậy, trước khi nhắm mắt, ông nói: “Nào, hãy lên đường đi, linh hồn ta hỡi!” (Allons, s’en-va, môn âme!). Thậm chí ông còn ra sức chứng minh sự tồn tại của Thượng đế, mặc dù cuối cùng thất bại[5]. Riêng về linh hồn, ông là người đòi phải tìm ra vị trí trú ngụ chính xác của linh hồn trong cơ thể con người. Theo ông, linh hồn nằm tại chính giữa bộ não (?).
Các nhà thơ, nhà văn lại thường mô tả tâm hồn nằm trong đôi mắt: “sinh khí” và tinh thần của con người biểu lộ rất rõ qua đôi mắt, ánh mắt – đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn! Trong khi các nhà khoa học thần kinh trước đây đã từng nghĩ rằng tư duy của con người tập trung ở não trái. Nhà khoa học thần kinh Oliver Sacks nói:
“Toàn bộ lịch sử thần kinh học và tâm-lý-thần-kinh-học (neuropsychology) có thể được coi như lịch sử của việc nghiên cứu bán cầu não trái. Một lý do quan trọng để người ta ít chú ý tới não phải là ở chỗ trong khi dễ dàng chứng minh các hiệu ứng của các tổn thương khu vực khác nhau đối với não trái, thì các triệu chứng bệnh lý tương ứng của bán cầu não phải lại rất ít phân biệt. Não phải nói chung bị xem thường so với não trái vì mang tính “nguyên thuỷ” hơn, trong khi não trái được xem như một bông hoa độc đáo của sự tiến hoá của con người. Theo một nghĩa nào đó thì điều này là chính xác: não trái tinh vi và chuyên biệt hơn, một sản phẩm tự nhiên hình thành rất muộn trong não vượn và đặc biệt trong não người. Mặt khác, chính não phải kiểm soát các khả năng chủ yếu trong việc nhận biết thế giới hiện thực xung quanh mà mọi động vật phải có để sinh tồn. Bán cầu não trái giống như một chiếc computer được gắn vào não người, được thiết kế để xử lý các chương trình và sơ đồ …”.
Tư tưởng nói trên cho thấy các nhà khoa học thần kinh đã từng coi tư duy của con người cũng giống như tư duy của computer. Tuy nhiên, những thành tựu mới nhất của khoa học computer đã chỉ ra rằng phần tư duy người nhất của con người không phải là tư duy computer và điều này hoàn toàn ăn khớp với những khám phá mới nhất của khoa học thần kinh.
Thật vậy, bài báo “Right Brain vs. Left Brain” (Não phải đấu với não trái)[6] cho biết: “Trong khi não trái thiên về những chức năng suy luận logic, phân tích lý luận, mổ xẻ chi tiết, nhận xét khách quan (không bị ảnh hưởng bởi cảm xúc riêng tư) thì não phải lại thiên về chức năng tư duy trực giác, tư duy tổng hợp, tư duy khái quát, cảm hứng ngẫu nhiên, nhìn toàn thể để rút ra cái chung mang tính bản chất, tư duy chủ quan (cảm xúc riêng tư)”.
Qua đó có thể kết luận:
“Tư duy của não trái thiên về tư duy computer, tư duy não phải thiên về tư duy người. Phần người nhất trong con người nằm ở não phải – linh hồn con người nếu phải tìm chỗ trú ngụ, nó sẽ chọn ngôi nhà chủ yếu ở não phải!”.
Tuy nhiên sẽ là một nhầm lẫn lớn nếu tuyệt đối hoá việc tách bạch hai loại tư duy thành hai khu vực hoàn toàn tách rời nhau. Thực tế hai bán cầu não thường phối hợp hoạt động với nhau để có được một tư duy đầy đủ nhất – giống như một hoạ sĩ lập thể có thể thể hiện một đối tượng với nhiều hình chiếu cùng xuất hiện một lúc trên một bức tranh, cái mà nghệ thuật phối cảnh cổ điển không thể có.
Đến đây có lẽ chúng ta sẽ dễ dàng đồng ý với nhau rằng tư duy thơ ca, nghệ thuật sẽ hoạt động chủ yếu ở não phải và đó là tư duy nằm trong phần đặc trưng cho tính người. Vậy tư duy khoa học thì sao?
Phải chăng tư duy khoa học là tư duy computer và do đó kém tính người hơn tư duy văn chương, nghệ thuật?
Không, đó là một ý nghĩ hồ đồ, kém hiểu biết về bản chất của khoa học.
Nếu so sánh khoa học với các lĩnh vực văn chương, nghệ thuật thì phải thừa nhận rằng khoa học chứa đựng nhiều tư duy máy móc hơn. Tuy nhiên sẽ là sai lầm nếu tuyệt đối hoá kết luận đó. Thực tế những nhà khoa học chân chính cũng đồng thời là những nghệ sĩ, theo đúng nghĩa của từ này. Còn ai nghệ sĩ hơn Albert Einstein khi ông tuyên bố: “Trí tưởng tượng quan trọng hơn kiến thức (The imagination is more important than knowledge)”. Thực ra Einstein và các danh họa cùng tìm kiếm một chân lý như nhau nhưng chỉ khác nhau ở phương pháp tiếp cận mà thôi. Đó là lý do giải thích vì sao Einstein rất mê Hình học Euclid. Ông gọi đó là cuốn “Hình học thiêng liêng” (The Holy Geometry). Tư tưởng hình học xuyên suốt đời ông, và có thể nói không ngoa rằng Thuyết tương đối tổng quát của ông chính là một lý thuyết “Hình học vật lý”. Cảm xúc hình học thiên về cảm xúc người, cảm xúc đại số thiên về tư duy của computer. Đó là lý do để Gottlob Frege, một nhà toán học lớn của Đức đầu thế kỷ 20, đã thốt lên vào lúc cuối đời rằng “Thực ra toàn bộ toán học là hình học”[7].
Đáng tiếc là phần lớn các nhà giáo dục không hiểu điều Frege nói. Muốn hiểu Frege, phải tìm hiểu lịch sử toán học thế kỷ 20, đặc biệt phải hiểu Chủ nghĩa toán học hình thức là gì, và không thể không biết “thảm hoạ giáo dục” trên thế giới những năm 1960 dưới danh hiệu “Toán học mới” (New Mathematics) mà tác hại của nó vẫn còn tới hôm nay. Tất cả những chuyện đó xin dành cho bài kỳ sau.
Tác giả: GS Phạm Việt Hưng.
Đăng tải với sự cho phép.
Đọc các bài khác của tác giả Phạm Việt Hưng ở đây.
Chú thích:
[1] Xem thêm: “Bên ngoài khoa học” của Phạm Việt Hưng, Khoa học & Tổ quốc tháng 03/2010 và các trang mạng: http://vietsciences.free.fr/  hoặc https://viethungpham.wordpress.com/
[2] Nền văn hoá của chúng ta coi vàng có giá trị hơn, nhưng khi cần một thứ kim loại để xây dựng một toà nhà chọc trời thì vàng lại trở nên hết sức bất lợi, vì nó quá mềm.
[3] Nếu không tin có linh hồn thì xin tạm thời thay thế khái niệm này bằng tâm hồn (the spirit). Trong thần học, những khái niệm này không hoàn toàn đồng nhất, mà có thể được phân tầng theo thứ bậc cao thấp rõ ràng. Nhưng bài viết này chỉ nhắc đến những khái niệm đó dưới một nhãn quan chung, đó là phần người không thuộc thể xác vật chất.
[4] Tất cả những từ ngữ mô tả linh hồn nói trên đều có thể sai hoặc thiếu chính xác, bởi chưa hề có một lý thuyết khoa học hoặc thực nghiệm nào đủ để chúng ta hiểu về nó một cách nhất quán. Nhà ngoại cảm có thể thấy rõ linh hồn nhưng cũng không thể “khoa học hoá” khái niệm này sao cho mọi người có thể cảm nhận được giống như họ.
[5] Nhà toán học lừng danh Kurt Godel cũng từng chứng minh sự tồn tại của Chúa!
[6] http://www.funderstanding.com/content/right-brain-vs-left-brain
[7] Xem “Lời sám hối của một nhà toán học hình thức” của Phạm Việt Hưng trên Khoa học & Tổ quốc tháng 05/2009 và trên các trang mạng: http://vietsciences.free.fr/  hoặc https://viethungpham.wordpress.com/

Xem thêm:

Nhà khoa học thần kinh: Tiên tri chính là ‘khả năng du hành xuyên thời gian của tâm trí’

Có những quy tắc của thế giới vật chất mà không áp dụng cho thế giới tinh thần. Lấy ví dụ, trong mơ bạn có thể bay lên cao, tưởng tượng ra một con sóc đang trò chuyện với bạn… Tuy nhiên, những giấc mơ và trí tưởng tượng thường được cho là mang tính tự bao hàm, có nghĩa là, nhìn chung nó không có tác động thực tại nào đến thế giới vật chất bên ngoài.
Tuy nhiên, Tiến sĩ Julia Mossbridge lại có suy nghĩ khác dựa trên những giấc mơ tiên tri của bản thân bà. Bà nói:

“Tôi nghĩ rằng tiên tri là một dạng thức trong đó tâm trí của bạn du hành thời gian đến tương lai để thu thập thông tin. Chúng ta chỉ biết áp dụng các quy luật của thế giới vật chất cho thế giới tinh thần mà không hiểu rằng có những quy luật khác nhau ở đó. Đó là một phạm trù, một phạm vi hoàn toàn khác biệt”.
Bà tiếp tục:
“Sự phân cách về không gian (giữa anh và tôi) và sự phân cách về thời gian (giữa sự kiện A và sự kiện B) trong thế giới vật chất này, đâu phải nhất định cũng đúng với thế giới của tâm trí, của tinh thần?”

Những giấc mơ tiên tri cho thấy địa hạt của tâm trí con người không tuân theo các quy tắc mà chúng ta thường áp dụng cho thế giới vật chất, Mossbridge cho hay.

(Ảnh: epochtimes)
Mossbridge là một nhà thần kinh học nhận thức (nhà khoa học về lĩnh vực thần kinh nhận thức). Bà đã làm việc với nhiều nhà vật lí và nhà tâm lý học để tìm ra các quy luật của quá trình tâm trí du hành xuyên thời gian.
TS Julia Mossbridge. Ảnh: Mossbridge
Trải nghiệm cá nhân của Mossbridge với những giấc mơ tiên tri là nhân tố thúc đẩy bà đi trên con đường nghiên cứu này. Bà cho biết một giấc mơ như vậy, đã “khiến bà chấn kinh”.

Bà Mossbridge từng có một giấc mơ dự đoán một sự kiện, chính xác đến từng chi tiết.

(Ảnh: epochtimes)
Vào thời điểm giấc mơ xuất hiện, bà đang trải qua một cuộc ly hôn. Bà có một đứa con 5 tuổi và không biết hai mẹ con sẽ sống ở đâu say ly hôn. Bà đã nghĩ về một nơi bà từng sống và cho rằng sẽ thật tốt nếu có thể quay trở lại đó.
Trong giấc mơ, bà gọi điện cho một bà chủ nhà trong khu vực mà bà biết. Bà chủ nhà cho biết bà có một ngôi nhà hai tầng cho thuê. Tầng trên đã được tân trang lại gần đây và đã có người thuê. Tầng dưới đang được tân trang lại và sẽ sẵn sàng trong hai tháng. Bà chủ nhà nói rằng bà có thể dẫn Mossbridge đi xem tầng trên để có thể ít nhiều hình dung được tầng dưới sẽ như thế nào khi sửa xong. Nếu bà chịu ký hợp đồng thuê nhà ngay, bà có thể chọn màu sơn cho căn phòng.

Mọi chuyện sau đó đã xảy ra y như vậy trong đời thực.

Tuy nhiên, trong đời thực, Mossbridge không gọi cho bà chủ nhà, mà thay vào đó chạy đến đó. Nhưng mọi chi tiết khác trong giấc mơ của bà, từng chi tiết nhỏ nhặt nhất,  đều trở thành hiện thực – từ căn nhà hai tầng, vụ tân trang lại, thời hạn hai tháng cho đến khi tầng dưới được hoàn thành, việc chọn màu sơn, tất cả đều chính xác.
“Mọi người đều có cả hai loại giấc mơ tiên tri, một loại về những điều dường như khá tầm thường, và loại kia là về những điều thực sự quan trọng trong cuộc sống của họ. Giấc mơ tiên tri thường xảy ra theo cách thức như vậy. Nhưng tôi bắt đầu tin rằng những điều dường như khá tầm thường kia lại không phải thế. Mà chúng giống như các tín hiệu chỉ dẫn, [các dấu hiệu, ám thị] trong cuộc sống. Lúc đầu, có thể bạn không nhận ra chúng là các sự kiện quan trọng, nhưng khi đến một lúc nào đó bạn sẽ phải thốt lên rằng, “Ồ hóa ra là vậy”, Mossbridge nói.
Chẳng hạn, giấc mơ tiên tri đầu tiên mà bà nhớ được là vào lúc nhỏ. Trong mơ một người bạn của bà bị mất chiếc đồng hồ trong sân chơi, và điều này đã thực sự xảy đến vào ngày hôm sau. Đây chỉ là một sự việc tầm thường, nhưng nhìn lại và suy ngẫm, nó dường như khá quan trọng đối với Mossbridge. Chiếc đồng hồ tượng trưng cho thời gian – chủ đề trọng tâm trong các nghiên cứu của bà sau này.
Là một nhà khoa học, Mossbridge tự hỏi liệu đây có phải là một trường hợp thiên kiến xác nhận hay không. Trong khoa học, thiên kiến xác nhận (còn gọi là thiên kiến (thiên lệch) khẳng định) là một khuynh hướng trong đó con người thường ưa chuộng/nghe theo, thậm chí chủ động tìm kiếm những thông tin nào xác nhận các niềm tin hoặc giả thuyết của chính họ. Theo đó, một giấc mơ vô nghĩa có thể trở thành “giấc mơ tiên tri” nếu bạn nhìn lại nó và cố gắng tìm kiếm các mối liên kết với các sự kiện trong đời sống thực.
Đó là lý do tại sao Mossbridge muốn khảo sát những thứ này một cách khoa học.

Các thí nghiệm chỉ ra, con người có thể biết được một cách vô thức điều sẽ xảy đến trong tương lai.

Một người đội chiếc mũ đo điện não đồ ghi lại những xung điện từ các neuron trong não bộ. (Ảnh: Ulrich W.)
Chẳng hạn, bà đã tiến hành phân tích tổng hợp kết quả thí nghiệm từ 7 phòng thí nghiệm độc lập. Kết quả chỉ ra cơ thể người sẽ phản ứng với các kích thích trong tương lai. Khi điều gì đó sắp xảy ra, một người sẽ vô thức biết được sự việc đó sẽ xảy ra. Phản ứng vô thức này có thể được xác thực trong phòng thí nghiệm bằng cách đo lường các phản ứng trong hệ thần kinh, tuyến mồ hôi, hoặc nhịp tim. Điểm cần nhấn mạnh là, các phản ứng cơ thể này xảy ra trước khi bạn gặp phải bất cứ điều gì. Lấy ví dụ, nếu bạn sắp gặp phải một chuyện rất đáng sợ, bạn sẽ cảm thấy lạnh sống lưng, tim đập nhanh, … chính là một loại cảm giác bất an lo lắng mặc dù … sự việc đáng sợ đó hoàn toàn chưa xảy ra.
Bà cũng đang làm các thí nghiệm cho thấy con người có thể sử dụng công năng thấy xa (nhìn thấy sự vật cách xa hàng trăm dặm) và giấc mơ tiên tri để dự đoán các sự kiện trên thị trường chứng khoán.
Liệu có thể áp dụng khả năng này để dự đoán các vụ tấn công khủng bố?
Một vụ đánh bom tự sát được thực hiện bởi Nhà nước Hồi giáo (IS) ở Kobani, Syria. (Ảnh: Gokhan Sahin / Getty)
Nếu có thể dự đoán các cuộc xả súng quy mô lớn hay các vụ tấn công bằng bom, nó sẽ giúp ích được cho rất nhiều người. Vào năm 2015, Mossbridge đã có một giấc mơ tiên tri về một vụ đánh bom của Nhà nước Hồi giáo tự xưng IS ở Kuwait.
Bà đã có một giấc mơ vào đúng đêm sự kiện xảy ra và rất nhiều chi tiết đều trùng khớp. Không chỉ vậy, bà còn nhìn thấy điều đó xảy ra trong buổi cầu nguyện giữa trưa, trong đó bà nhìn thấy con số 27, chính là số người chết; bà còn nhìn thấy chữ “IS”. Một số chi tiết có vẻ không khớp, ví như bà nghĩ sự việc xảy ra ở Israel, chứ không phải Kuwait.
Nhật kí của Tiến sĩ Julia Mossbridge, nơi bà ghi lại giấc mơ tiên tri của mình về một vụ đánh bom vào ngày 26/7/2015. Ảnh chụp màn hình / Skype
Chính nhờ hiệu quả tiềm năng của những giấc mơ như vậy, Mossbridge nghĩ rằng nếu mọi người có thể chia sẻ linh cảm của họ thông qua một sổ dữ liệu trực tuyến, nó sẽ có thể giúp ích rất nhiều. Nếu sổ đăng ký nhận được hàng chục các [báo cáo] linh cảm mà tất cả chúng đều trùng khớp ở một số phương diện nhất định, nó có thể là dấu hiệu cho thấy một sự kiện có nhiều khả năng xảy ra.
Mọi người có thể tránh xa một địa điểm nhất định nào đó nếu rất nhiều người có linh cảm về một vụ tấn công tại địa điểm đó vào một thời điểm nhất định.

Hãy thử hình dung một tương lai với một cuốn sổ lưu trữ dữ liệu trung tâm về linh cảm.

(Ảnh: epochtimes)
Mặc dù đã có một số nỗ lực để tạo ra một cuốn sổ lưu trữ dữ liệu về linh cảm như vậy, nhưng “chúng dường như không ổn vì mọi người sẽ không thể thờ ơ với thứ này. Mọi người sẽ rất sợ hãi. Bởi nếu tôi nói với ai đó giấc mơ về vụ đánh bom, và kể rất chi tiết, họ có thể đến nhà tôi và hỏi, “Vậy chính là bà đã thực hiện vụ đánh bom này phải không”, Mossbridge cho hay.
Bởi những người không ở trong cuộc sẽ không biết làm thế nào để đối phó với trường hợp loại này, nên họ có thể cho rằng những người có linh cảm bị bệnh tâm lý, hay gặp vấn đề về tinh thần. Hoặc họ có thể cho rằng “những người đó cho rằng họ bắt gặp một sự trùng hợp ngẫu nhiên có ý nghĩa [có tính liên hệ với đời sống thực], nhưng rốt cục chúng vẫn chỉ đơn thuần là những sự trùng hợp ngẫu nhiên mà thôi”.
Tuy rằng việc suy ngẫm về thời gian và các khả năng tinh thần siêu việt (VD: khả năng tiên tri) là một trong những việc ưa thích của Mossbridge, bên cạnh đó, bà cũng tham gia tất cả các loại dự án thú vị khác. Chẳng hạn, bà vừa là giám đốc nghiên cứu của Viện Mossbridge, vừa là giám đốc Phòng thí nghiệm Sáng tạo (Innovation Lab) tại Viện Khoa học Tinh thần (Institute of Noetic Sciences).
Công việc hàng ngày của bà bao gồm việc phát triển các ứng dụng để giúp mọi người lắng nghe trực giác của mình và kiểm nghiệm khả năng tồn tại các công năng tinh thần của bản thân, cũng như dạy các lập trình viên ở Thung lũng Silicon (Silicon Valley) cách chăm sóc sức khỏe tinh thần cho chính mình.
Một cuốn sách của bà, “Transcendent Mind” (tạm dịch: Tâm trí siêu việt), đã được Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ xuất bản vào cuối năm ngoái. Việc cuốn sách này được một viện khoa học lớn xuất bản là một bước tiến quan trọng đối với rất nhiều nhà khoa học từng nghiêm túc nghiên cứu khả năng tiên tri, và các hiện tượng khác cho thấy tinh thần hay tâm trí có khả năng tồn tại bên ngoài và không phụ thuộc vào não bộ.
Ngự Yên
 

Xem thêm: