Nhà Táo một bà hai ông: Đạo nghĩa vợ chồng dưới góc nhìn Kinh Dịch huyền bí

Thế gian một vợ, một chồng, Chẳng như vua bếp, hai ông một bà Gia cảnh “tréo ngoe” của nhà Táo từ lâu đã được dân ta đem ra răn dạy nhau, ăn ở vợ chồng phải có trước có sau, thế gian chỉ có tồn tại mối quan hệ một vợ một chồng mà …
The post Nhà Táo một bà hai ông: Đạo nghĩa vợ chồng dưới góc nhìn Kinh Dịch huyền bí appeared first on Đại Kỷ Nguyên.

Bài học của Park Hang Seo và U23: Khi bạn mắc sai lầm, luôn có một người bọc lót đằng sau

Xem những màn trình diễn đầy tự tin, xông xáo mà bình tĩnh của các cầu thủ Việt Nam tại giải đấu U23 AFC 2018 vừa qua, người hâm mộ hẳn đã nhận ra có điều gì đó rất khác ở các cầu thủ trẻ. Đó là sự tự tin và một tinh thần đồng …
The post Bài học của Park Hang Seo và U23: Khi bạn mắc sai lầm, luôn có một người bọc lót đằng sau appeared first on Đại Kỷ Nguyên.

Còn 1 trận đấu khốc liệt đáng sợ khác chờ U23 Việt Nam: Đôi chân trẻ xin hãy giữ trên mặt đất

Gần 3 tuần thi đấu dũng cảm của tuyển U23 Việt Nam đã kết thúc trong niềm hạnh phúc vỡ òa. Chắc chắn đã có rất nhiều gánh nặng được đặt lên vai những chàng trai trẻ.  Và cũng chắc chắn rằng họ đã thấy nhẹ nhõm hơn rất nhiều khi trở về trong sự …
The post Còn 1 trận đấu khốc liệt đáng sợ khác chờ U23 Việt Nam: Đôi chân trẻ xin hãy giữ trên mặt đất appeared first on Đại Kỷ Nguyên.

Cảm hứng U23 Việt Nam: Lối thoát cho sự tự ti của một dân tộc?

Những gì tuyển U23 Việt Nam đã làm được ở Thường Châu đang truyền đi cảm hứng và một làn sóng ngầm trong tâm thức hàng triệu người dân nơi quê nhà. Một niềm tự hào, một sự giải tỏa cho tâm thế ở chiếu dưới trong hàng thập kỷ, và một hy vọng, tin …
The post Cảm hứng U23 Việt Nam: Lối thoát cho sự tự ti của một dân tộc? appeared first on Đại Kỷ Nguyên.

Lòng đố kỵ như hòn than nóng, ném vào người khác nhưng chính mình lại bị thương

Trong những thói hư tật xấu cơ bản, là nguồn gốc cho nhiều loại tội ác phái sinh của con người, duy chỉ có tâm đố kỵ, tật đố là không mang lại cảm giác thỏa mãn, vui thú hay dễ chịu nào. Vậy nhưng biểu hiện của tâm đố kỵ lại rất phong phú …
The post Lòng đố kỵ như hòn than nóng, ném vào người khác nhưng chính mình lại bị thương appeared first on Đại Kỷ Nguyên.

Đừng dạy con bạn cách chiến thắng, hãy cho chúng biết cách thất bại như thế nào

Gần đây, thông tin về một nữ sinh lớp 7 tự tử trong lớp học khiến người ta không khỏi đau lòng. Anh Nguyễn Văn C, bố của bé gái chia sẻ rằng hơn 2 tuần nay thấy con có biểu hiện sa sút trong học tập nên cô giáo chủ nhiệm đã gọi điện …
The post Đừng dạy con bạn cách chiến thắng, hãy cho chúng biết cách thất bại như thế nào appeared first on Đại Kỷ Nguyên.

Người Việt không xấu xí: Ứng xử lạ lùng của ‘Bao Công đất Việt’ khiến kẻ hối lộ cứng họng quay về

Loạt bài Người Việt không xấu xí của chuyên mục Văn hóa – Đại Kỷ Nguyên hy vọng sẽ mang tới làn gió mát lành giữa những trăn trở về hình ảnh ngày nay của người Việt Nam. Chúng tôi muốn cung cấp cho độc giả một góc nhìn khác, để chúng ta cùng quay …
The post Người Việt không xấu xí: Ứng xử lạ lùng của ‘Bao Công đất Việt’ khiến kẻ hối lộ cứng họng quay về appeared first on Đại Kỷ Nguyên.

Đâu là nguồn gốc thực sự của thuyết vô Thần?

Trong lịch sử dài đằng đẵng của nhân loại, học thuyết vô Thần chỉ mới xuất hiện từ khoảng thế kỷ 14. So với những tín ngưỡng cổ xưa và các học thuyết về Thần học đã có mặt từ thời kỳ hồng hoang của văn minh nhân loại, thuyết vô Thần chỉ như đứa …
The post Đâu là nguồn gốc thực sự của thuyết vô Thần? appeared first on Đại Kỷ Nguyên.

‘Nghèo tốt’ và nghèo ‘xấu’, làm sao phân biệt?

“Chúa Trời có thể làm cho tất cả mọi người đều giàu có, nhưng ông muốn thế giới này có người nghèo để người giàu có cơ hội để chuộc lỗi của họ”
(Cuộc đời của Thánh Eloi)
Các em bé nghèo vùng cao hạnh phúc khi nhận những quyển sách giáo khoa cũ (Ảnh: giaoduc.net.vn)
Trong những tháng gần đây, chủ đề  hỗ trợ người nghèo chiếm một vị trí đáng kể trong dư luận xã hội. Ý kiến của một số người có khuynh hướng phân biệt  rõ ràng những người được coi xứng đáng hỗ trợ và những kẻ lười biếng, ăn không ngồi rồi. Tư duy này thực sự phản ánh một tranh luận rất cũ thời trung cổ, về “nghèo tốt” và “nghèo xấu”.
Khi nào “người nghèo tốt” bắt đầu được yêu thương?
Những năm 2000 chứng kiến sự gia tăng các hiệp hội nhằm giúp đỡ những người khó khăn. Người nghèo khi đó được nhìn nhận như những người bất hạnh nhưng là người tốt và cần được giúp đỡ.
Giúp đỡ người nghèo, vì đâu?
Những em bé nghèo vùng cao quây quầy bên đống lửa trong giá rét mùa đông (Ảnh: dansinh.vn)

Vào nửa đầu thế kỷ 14, người nghèo được nhìn nhận không chỉ là người bất hạnh, nạn nhân của sự khắc nghiệt của thời gian, mà còn được coi như một hình ảnh của Chúa, những thánh đồ xuống thế gian chịu khổ chịu nạn để cứu vớt con người.

Chúa Jêsus đã nói, “Những gì con làm cho những con chiên nhỏ bé nhất của ta, chính là con làm điều ấy cho ta”, những người Cơ đốc giáo nhìn nhận gúp đỡ như một cách cứu rỗi và coi đây là một việc nhân từ, thể hiện bản tính thiện lương và từ bi tiên thiên của một con người. 
Chúa Jêsus đã nói, “Những gì con làm cho những con chiên nhỏ bé nhất của ta, chính là con làm điều ấy cho ta” (Ảnh: tinnguong.vn)
Từ đó, nghèo và những hoạt động hỗ trợ người nghèo đã thăng hoa. Hình ảnh thể hiện ở thời xưa là người lính Martin, đã rủ lòng thương trước một người nghèo đang chịu rét lạnh, đã cho người đó nửa chiếc áo choàng của mình.
Thánh Martin chia sẻ áo khoác của mình, BNF, Great Hours Anne de Bretagne, fol. 387, thu nhỏ của Jean Bourdichon (thế kỷ thứ mười sáu).

Giám mục trong thế kỷ thứ chín, Hincmar de Reims định nghĩa về nghèo khổ, không giới hạn chỉ ở sự bần cùng về vật chất, theo ông, nghèo khổ cũng xuất phát từ tất cả những điểm yếu mà người khác có thể lợi dụng một cách bất công nhằm mang lợi lộc cho mình.

Một phần thu nhập của nhà thờ Giáo Hội khi ấy được dành để trợ giúp người nghèo. Các giám mục phân chia cho người nghèo một phần tư thu nhập của họ, các linh mục giáo xứ một phần ba; còn đối với các tu viện, tỷ lệ này thay đổi tùy theo từng nơi.
Nhưng họ chỉ có thể giúp một lượng cố định người nghèo, những người được ghi danh vào sổ được kiểm soát chặt chẽ.
Những giáo sĩ – như nhân viên trợ cấp xã hội thực sự cẩn thận lựa chọn người nghèo cần giúp đỡ. Họ trợ giúp suốt đời cho người bệnh, người già và người tàn tật, những người không thể làm việc.
Còn giúp tạm thời cho người bất hạnh bị đẩy ra đường, trong thời gian người này khôi phục lại gia cảnh. Đổi lại, những người nghèo này làm các dịch vụ nhỏ cho nhà thờ.
Nhưng sự tăng trưởng dân số ở phương Tây từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 14 làm thu nhập của giáo hội không đủ trợ cấp cho người nghèo. Giống như sau hai cuộc khủng hoảng dầu lửa năm 1973 và 1979, người ta đã tổ chức chặt chẽ hơn sự trợ giúp từ các nguồn hảo tâm.
Các em bé nghèo vùng cao (Ảnh: dongcam.vn)
Từ thế kỷ thứ 9 và đặc biệt là sau thế kỷ thứ 11, các bệnh viện hoặc các tổ chức cứu trợ gia tăng số lượng.
Các tổ chức này cho người nghèo và người bệnh ăn và ở, và không liên quan nhiều nữa đến thu nhập thường xuyên của các giáo sĩ, mà nguồn là do trợ cấp của một nhà giàu sáng lập, cũng như những  đóng góp khiêm tốn hơn nhưng thường xuyên từ các nhà hảo tâm.
(Ảnh: tfsfonayliyarismalar.org)
Hình tượng thánh thiện của “người nghèo tốt” vẫn còn hiện hữu, nhưng người ta phân biệt người tàn tật nghèo với người khỏe- là người  thất nghiệp hay không, được coi là người ăn không ngồi rồi và bị loại bỏ khỏi trợ cấp.
Trước sự gia tăng của người nghèo, xã hội hiện nay do dự một mặt giữa sự thương hại và sự trợ giúp, và mặt khác, giữa bãi bỏ và giữ lại. 
Khi nào người ta bắt đầu khó chịu với ‘người nghèo’? 
Kể từ thế kỷ 14, số người nghèo tăng lên nhanh chóng cùng với sự gia tăng các  cuộc khủng hoảng kinh tế và dịch bệnh. Lớn nhất là dịch hạch  năm 1348. Nhưng  trước đại dịch này, phương Tây trải qua thời kỳ “thiếu đói” do mùa màng thất bát, do đất đai hạn chế trong khi dân số gia tăng. Tình hình này đẩy nhiều người ra đường.
Nông dân rời khỏi đồng ruộng ra thành phố, làm nở rộ dòng người di cư, những người bán sức lao động. Những người ăn xin và lang thang tăng lên nhanh chóng: một tình huống mà các thế kỷ trước đó chưa từng biết đến.
Người nghèo có khuynh hướng trở thành một hình ảnh không mong muốn khi số người túng thiếu tăng lên. Người nghèo được trợ giúp là những người đã quen biết trong cộng đồng, được các tổ chức tình huynh đệ hay bệnh viện trợ cấp.
Nhưng vấn đề đặt ra đặc biệt đối với những người ở bên lề của các tổ chức này, họ là những người lang thang.
Từ người nghèo ngoan đạo trong các thế kỷ trước, được thay thế bằng hình ảnh của người “nghèo xấu”, những người lang thang ăn bám và nguy hiểm. Thực tế người nghèo rất nhiều và bởi họ chẳng có gì để mất, nên họ nhanh chóng bày tỏ sự không hài lòng  bằng cuộc nổi loạn.
Năm 1494, Sébastient Brant đã viết Con thuyền của những người điên (Nef des fous), một cuốn sách bi quan, trong đó ông mô tả xã hội như một con tàu, với những rối loạn xã hội, đang chìm không thể cứu vãn. Một cuốn sách gợi cho thấy biết bao hình ảnh  của xã hội đang đi xuống. Trong số những cái xấu của xã hội, Brant phản ánh chua cay và mỉa mai những người “nghèo xấu” và sự trợ giúp cho tất cả các loại nghèo túng:
“Nef des fous”, Stadtbibliohek Nürnberg. (Con tàu của những người điên, Sébastien Brant)

“Một số người ăn xin khi đang trẻ  khỏe, đầy sức lực có thể lao động: tại sao không đi làm […] Tất cả những kẻ tàn tật giả mạo và những kẻ đáng treo cổ lang thang trong các hội chợ. […] Một người khác ban ngày kéo lê  trên cái nạng, nhưng khi chỉ có một mình, anh ta đi một lèo nhanh nhẹn hoạt bát “

Đồng thời, các thành phố thường xuyên săn đuổi người nghèo sống ở đây. Sống trên đường phố, những con người bất hạnh lang thang từ thị trấn này sang thị trấn khác, giống như người nhập cư ngày nay sống phập phồng theo việc tháo dỡ các lều trại tạm và những khu nhà ổ chuột.
Bên cạnh những người không phản đối người vô gia cư, thì có những nhóm thường chốt bảo vệ những con ngõ hẻm để ngăn chặn “người lạ” lọt vào bên trong.
Người vô gia cư (Ảnh: nguoivogiacu.com)
Người nghèo là “tốt” và xứng đáng được thương xót khi họ không quá nhiều và khi nền kinh tế của xã hội đủ để giúp họ. Hoạt động này giống như một bản báo cáo hay: thật dễ dàng thể hiện lòng tốt và sự đoàn kết với một ít chi phí.
Mặt khác, các cuộc khủng hoảng kinh tế dẫn đến việc gia tăng người nghèo, và việc giúp họ  trở nên khó khăn hơn. Sự hiện diện của họ trong cuộc sống hàng ngày làm gia tăng cảm giác về sự bấp bênh, nguy hại tới nền kinh tế…
Tất cả những ai vẫn có thể tự nuôi sống bản thân nhưng bị đe dọa rơi vào tình trạng bấp bênh, là nguy cơ làm gia tăng người nghèo trên đường phố. Khi đó, cái nhìn về người nghèo trở nên khó chịu hơn, và người ta cố gắng đẩy họ ra khỏi tầm nhìn của mình. Đồng thời, người ta còn tổ chức bàn luận về “người nghèo xấu”,  trách nhiệm để giúp đỡ, hỗ trợ và làm sao để tránh xung đột đạo đức khi trục xuất họ ra khỏi thành phố.
Rốt cuộc, người nghèo thực sự có phải vì họ lựa chọn muốn nghèo, vì họ lười biếng, hay kém cỏi? Có lẽ không phải hoàn toàn như vậy? Tất cả chỉ là những con đường khác nhau của các số mệnh và sẽ là tốt đẹp nhất nếu mỗi người chúng ta nhìn mọi người xung quanh bằng con mắt bao dung, giúp đỡ họ nhưng không sống thay cuộc đời của họ…
Hạo Nhiên- Hà Phương

Xem thêm:

‘Dạ thưa’ nghe đến mặn mà, vì sao nên cớ bay xa mất rồi…

Dịu dàng em nói dạ thưa
Đôi môi lễ độ nghìn xưa vọng về
(Trích thơ “Dạ thưa” – Lê Minh Quốc)
Tiếng “dạ”, tiếng “thưa” từ lâu đã là một nét văn hóa rất đặc trưng và duyên dáng của người Việt Nam. Với đặc thù nhiều vùng miền với âm sắc giọng nói khác nhau, lên bổng xuống trầm khác nhau, tiếng dạ thưa mỗi vùng ở mảnh đất hình chữ S đều có mang một sắc thái thật dễ chịu và đẹp đẽ. Có vùng thì nghe sao thật trang nhã, thanh lịch, có vùng nghe đến ngọt lịm cả tâm can, có vùng lại chân thật, đáng yêu và mềm mại đi vào lòng người. Ở đâu, tiếng dạ, tiếng thưa cũng đã trở thành một thanh âm lịch thiệp mà gần gũi, ngọt ngào mà tiết chế không vồ vập.
Hai tiếng dạ thưa ấy có thể vẽ nên dáng vóc một cô gái ngoan hiền, thùy mị, lễ độ và nhẹ nhàng. Tất nhiên không chỉ phụ nữ, đàn ông cũng cần nói dạ thưa để thể hiện sự kính trọng và lịch thiệp của người quân tử biết trọng lễ.
Chẳng phải tự nhiên mà trẻ em từ khi mới bi bô, đã phải học nói “dạ” khi mẹ gọi, lớn lên một chút thì phải biết “thưa bà con đi học”, “thưa bố con mới về”… Ra ngoài gặp người ngoài, được hỏi chuyện thì cũng phải dạ thưa ở đầu môi. Thiếu tiếng dạ, vâng, thưa gửi, thiếu cả danh xưng thì sẽ được gọi là nói trống không, là vô văn hóa, vô học.
Vẻ đẹp của một cô gái không chỉ từ vẻ ngoài hấp dẫn mà còn từ lời ăn tiếng nói duyên dáng, nhẹ nhàng (Ảnh: Unsplash).
Thế nhưng chẳng biết từ bao giờ, người ta đang dần thu gọn ngôn ngữ truyền thống đẹp đẽ, mở rộng ngôn ngữ hiện đại cộc lốc kỳ dị. Có người nói rằng “Lời nói là y phục của tư tưởng”, nếu ví von vậy thì ngày nay, y phục đó cũng như mốt thời trang ngắn ngủn, hở hang, phơi bày da thịt. Y phục từ đó cũng phơi bày tư tưởng ngắn ngủn, thiếu nội hàm.
Những người yêu nhau không gọi nhau anh, em mà gọi nhau vợ vợ, chồng chồng, nghe thật bình đẳng, ngang hàng phải lứa. Các cặp vợ chồng thì nói trống không, chẳng có tôn ti trật tự. Cái tôn, ti ở đây không phải chỉ là cao thấp, tỏ ý so sánh, phân chia, khinh thường người này, đề cao người kia. Mà là thể hiện những vị trí khác nhau sẽ tương ứng với đặc điểm, nhiệm vụ, chức phận khác nhau trong một gia đình.
Câu nói “Nam tôn nữ ti” bắt nguồn từ “Thiên Tôn Địa Ti” là để diễn tả ý nghĩa “Trời ở trên Đất ở dưới, Trời cao Đất thấp”, là một cách dùng, để miêu tả trạng thái tự nhiên, là điều tất yếu của tự nhiên. Cũng như hai mặt của một bàn tay, sao có thể nói cái nào quan trọng, cao sang hơn cái nào. Thiếu một trong hai thì đâu thành bàn tay. Trong gia đình cũng vậy, với đặc điểm của mỗi phái, thuận theo tự nhiên mà hành xử, đảm đương chức phận cho phù hợp. Âm không thể như dương mà dương cũng chẳng thể như âm. Người chồng tự cường, mạnh mẽ, chính trực. Người vợ bao dung, nhã nhặn khiêm hòa. Vợ chồng xưng hô cho đúng vai vế, thưa gửi, hành xử theo lễ, giữ cho nhau sự trân quý và kính trọng. Đầu tiên vẫn phải là từ ngôn ngữ giao tiếp.
Tôi có cô bạn lấy chồng hơn cô bốn tuổi, đang đi ăn cùng chúng tôi thì chồng cô ấy gọi điện. Nhìn hiển thị số điện thoại, biết chồng gọi, cô nhấc máy đáp chỏn lỏn “Gì đấy?”. Chắc anh chồng hỏi bao giờ thì về, cô trả lời rằng “chắc cũng phải sau 10 giờ…. rồi, thế nhé!” và cúp máy.
Tôi chợt nhớ tới hai bác mình, dù bằng tuổi nhau, lấy nhau do mai mối từ thời xưa, nhưng 40 năm qua rồi, tuyệt nhiên tôi chưa bao giờ nghe thấy hai bác nói với nhau trống không một lần nào, kể cả những lúc tranh cãi, giận hờn. Bác trai khi bắt máy bác gái gọi thì sẽ nói “Ừ anh đây”, và kết thúc luôn là “Anh dập máy nhé!”, đôi khi không vội, bác sẽ nói “Em dập máy trước đi!” để bác gái đỡ cảm thấy hụt hẫng khi nghe tiếng cúp máy khô khốc từ đầu dây của mình.
Tiếng dạ thưa dịu dàng làm nên nét đẹp người phụ nữ (Ảnh: Unsplash).
Chỉ là lời ăn tiếng nói, nhưng nó cũng là thể hiện sự tôn trọng mối quan hệ, tôn trọng đối phương. Và khi ta cho người khác thấy được sự tôn trọng thì họ vô thức cũng sẽ tôn trọng lại ta. Tôn trọng lẫn nhau chính là nền tảng của mọi mối quan hệ, dù có thân thiết quấn quít, chia ngọt sẻ bùi như vợ chồng thì vẫn phải có giới hạn và sự kính nhường nhất định.
Hai từ thân thương “anh, em” vừa gần gũi vừa thể hiện cái tôn, cái ti của một chỉnh thể gia đình, là hai mặt của một bàn tay. Gia đình là lạp tử của xã hội, nếu ngay từ thành phần nhỏ bé nhất đó, mọi thứ đều hỗn độn không có trật tự, thì xã hội sao có thể không loạn. Người xưa nói “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, nếu muốn làm việc đại sự như bình thiên hạ thì vẫn phải bắt nguồn từ việc tu dưỡng bản thân, duy trì gia đình nề nếp.
Tu thân ở đây chẳng phải là từ những điều nhỏ nhặt nhất, từ lời ăn tiếng nói, nếp đứng, nếp ngồi, rồi mới đến học hành mở mang đầu óc, từ bỏ thói hư tật xấu, làm việc tốt. Gia đình nề nếp chẳng phải gốc rễ vẫn là có trật tự, gia phong. Một núi không thể có hai hổ, một nước không thể có hai vua, một nhà cũng không thể có hai bầu trời mà chẳng ai chịu làm mặt đất.
Người xưa nói vậy không phải vì họ coi trọng địa vị mà bởi trong việc điều hành mọi cơ cấu, tổ chức, việc làm sao để có được nhiều ý kiến xuất sắc nhất không quan trọng bằng việc đồng lòng thực hiện theo một ý đã được đưa ra. Trong gia đình cũng vậy, ai cũng là trụ cột, người này muốn thế này, người kia lại muốn thế kia, tranh cãi, giằng co, cuối cùng lại chẳng làm được việc gì mà lại nảy sinh mâu thuẫn, bất hòa. Nếu người vợ chỉ đảm đương việc nào đó, người chồng đảm đương những việc còn lại, không những không chồng chéo mất thời gian tranh luận mà lại càng làm tăng trách nhiệm và sự nỗ lực của mỗi người.

Và sự trật tự trong gia đình đó thể hiện ngay ở lời ăn tiếng nói với nhau. Anh gọi thì em dạ, em gọi thì anh thưa, thuận hòa như nước chảy, phong thủy của gia đình chính là ở đây chứ đâu.

Vợ chồng cần chi khách sáo! Đó là lý lẽ của nhiều bạn trẻ sau một thời gian yêu nhau anh em ngọt xớt đến khi lấy nhau lại mày tao chí tớ, nghe cho có vẻ bình đẳng và không câu nệ, không khoảng cách.
Hai đứa bạn tôi học chung từ hồi cấp 3 lấy nhau, hồi mới “cưa cẩm” thì kêu nhau “tớ, ấy”, khi lấy nhau về không quen, cho rằng bằng tuổi thì sao phải gọi “anh, em”, như thế “hóa ra tao ít tuổi hơn nó à?” – cô bạn tôi giải thích. Lúc đầu họ gọi nhau bằng tên như bạn bè, vợ chồng trẻ nào thì cũng có lúc cãi vã, những lúc như thế gọi tên nhau e rằng không thể hiện được hết cái uất ức, nộ khí đang ngùn ngụt nên họ gọi nhau là “mày, tao”. Sau thành không ai chịu ai, cứ xưng mày tao vậy cho đến khi sinh con và tất nhiên, chẳng có tiếng “vâng ạ, dạ, thưa” nào vang lên trong ngôi nhà của họ.
Vợ chồng nói năng có lễ nghĩa với nhau chính là phong thủy của gia đình. Ảnh: Unsplash
Tôi không thể tưởng tượng được, đứa trẻ bé bỏng ngây thơ đó từ khi sinh ra đã thấy bố mẹ nói chuyện với nhau như vậy thì có hiểu được sự ngọt ngào, thân thương của những từ tiếng Việt hết sức phổ thông một thời. Chỉ thấy đến khi biết nói và đi học, bé toàn gọi các bạn ở trường là “mày”, xưng “tao”. Nói chuyện với ông bà cũng toàn theo cái kiểu “nước, khát quá, cho cốc nước đi!”, hay khi được hỏi thì trả lời “ăn rồi”, “đến trường vui!”…
Có người cho rằng, chẳng quan trọng gì cái cách vợ chồng nói với nhau, miễn là chân thành. Nhưng chẳng phải sự chân thành phải được bảy tỏ ra bằng sự tôn trọng hay sao, nếu không nó cũng chỉ là biểu hiện của lòng ích kỷ. “Tôi yêu cô, tôi giữ trong lòng là được rồi, hàng ngày đi làm kiếm tiền, mua quà mua đồ về cho vợ con, sao phải khách khí”. Thế nhưng đó là anh mới chỉ nghĩ từ phía của mình, dựa trên mong mỏi và cảm xúc của mình, đâu có nghĩ cho người vợ đâu.
Có thể vợ cũng chẳng cần, nhưng trách nhiệm của chúng ta đều phải là biểu hiện cho người khác thấy sự tôn trọng, đó là văn hóa tối thiểu. Không thể phủ nhận rằng, nhìn bề ngoài, cách xưng hô “mày – tao”,“tôi – cô” hay nói trống không là dấu hiệu của một mối quan hệ đã xuống cấp. Người ta dễ dàng đánh giá như vậy mà chẳng cần biết nội tình gia đình bạn ra sao. Bạn thử nghĩ mà xem, kể cả những gã đàn ông nói năng với vợ thô bỉ nhất, những cô vợ chua ngoa nhất, khi đi với “bồ” bao giờ cũng “anh anh em em” ngọt như mía lùi là gì.
Không chỉ giữa những người thân với nhau, chúng ta đang dần bỏ đi những lời mà bản thân cho là khách khí, rườm rà. Ngoài xã hội, khi gặp người không quen biết, đáng lẽ cái sự lịch sự, khách khí nó phải cao hơn với người nhà. Thế nhưng không ít lần tôi chứng kiến người ta vào cửa hàng mua đồ mà nói với nhân viên kiểu như “(cái) này giá bao nhiêu?”, “Có cỡ to hơn không?”, “Còn rau thơm không?”… Không những khách hàng vênh vang, chao chát vì nghĩ mình ở vị thế là “Thượng đế”, mà người bán hàng cũng không kém phần: “Không mua thì đừng có bới lên thế!”, “Nhà này chỉ có hàng thế thôi, không thích thì đi chỗ khác”… Người ta đối với nhau cứ như có thù hằn, hiềm khích gì từ bao đời. Thật kỳ lạ!
Chẳng cần có công trình khoa học nào nghiên cứu và làm rõ, chúng ta cũng biết tác động của lời nói tới tâm trạng, cảm nhận của người nghe. Thậm chí trong ngoại giao, thương lượng, thuyết trình thì nó có thể đóng một vai trò sống còn. Bởi lời nói là y phục của tư tưởng, nó cho người khác nhìn thấu bạn, cảm nhận về bạn và ra quyết định xem có nên tin tưởng và tôn trọng bạn hay không.
Giống như câu chuyện cổ tích của Perrault về hai chị em xinh đẹp. Cô chị tốt bụng, hảo tâm nên bà Tiên ban cho phép màu, mỗi lần mở miệng nói chuyện thì sẽ nở hoa, phun ngọc. Cô em thiếu lễ độ nên mỗi khi mở miệng thì sẽ nhả ra rắn và cóc. Đến người mẹ của hai cô gái còn không thể ở bên cô em vì không chịu nổi rắn rết, cóc nhái do cô em nhả ra. Thế thì bạn, bạn có muốn ở cạnh một người ăn nói cộc cằn, chỏn lọn, ác mồm ác miệng hay không? Bạn không thể, thì người khác cũng không thể ở bên nếu bạn cũng giống như vậy.
Thuần Dương

Xem thêm: