Cảnh giới của bậc quân tử: Người quân tử có 9 điều nên lo nghĩ

Tục ngữ có câu: “Trữ đắc tội quân tử, bất đắc tội tiểu nhân” tạm dịch: Thà đắc tội với người quân tử không nên đắc tội với kẻ tiểu nhân. Tại sao lại nói như vậy? Bởi kẻ tiểu nhân lòng dạ hẹp hòi, luôn đố kị với người khác, còn bậc quân tử …
The post Cảnh giới của bậc quân tử: Người quân tử có 9 điều nên lo nghĩ appeared first on Đại Kỷ Nguyên.

7 điểm dễ dàng phân biệt người quân tử và kẻ tiểu nhân, người hiện đại càng nên biết

Người quân tử luôn là mẫu hình hướng đến của xã hội xưa. Quân tử và tiểu nhân chính là hai vế đối lập nhau như nước với lửa. Chẳng ai muốn làm tiểu nhân để phải nhận sự chê bôi của người đời. Nhưng nhìn thế nào để ra được bậc quân tử và …
The post 7 điểm dễ dàng phân biệt người quân tử và kẻ tiểu nhân, người hiện đại càng nên biết appeared first on Đại Kỷ Nguyên.

Trên đầu người tốt có vầng sáng, dù hổ dữ cũng không hề động tới

Con người sống nếu làm một người lương thiện, thì trên đầu sẽ luôn tỏa ánh hào quang, hơn nữa còn được Thần linh bảo hộ thoát khỏi tai ương. Đây vốn không phải là chuyện hoang đường khoác lác! Người mẹ của Kỷ Hiểu Lam – nhà văn thời nhà Thanh là Trương thái …
The post Trên đầu người tốt có vầng sáng, dù hổ dữ cũng không hề động tới appeared first on Đại Kỷ Nguyên.

Nước càng sâu chảy càng chậm, người càng trí huệ càng khiêm nhường

Lão Tử nói: “Người không tự cho mình là đúng thì trí óc mới có thể sáng suốt, người không khoe khoang thì công trạng của họ mới có thể được khẳng định, người không kiêu ngạo thì sự nghiệp mới có thể phát triển”. Từ xưa đến nay, phàm là người  làm được việc lớn đều có đức khiêm tốn.
Hai chữ “Khiêm tốn” chứa nội hàm vô cùng sâu sắc. Cổ nhân có câu: “Người khiêm nhường là gốc tích đức”, “Người khiêm nhường có thể đứng trước mọi người, kẻ cậy công ngạo mạn đứng sau mọi người”. Khiêm tốn là mở lòng dung nạp người khác, tôn trọng người khác. Đó cũng là tinh thần không ngừng đạt đến sự hoàn mỹ khiêm nhường như dòng nước, không ngại hạ mình chảy xuống chỗ thấp để dung nạp mọi thứ như biển dung nạp trăm sông.
Khiêm nhường được lòng người
Dương Tử là một nhà triết học nổi tiếng thời Chiến quốc. Một đêm, ông trú chân tại một nhà trọ. Trong nhà trọ cũng có hai cô nương thuê phòng, một người nhan sắc tuyệt trần, người kia thì dung nhan có phần kém cỏi. Tuy nhiên mọi người lại rất tôn trọng người phụ nữ kém xinh đẹp, đối xử với cô như một tiểu thư đài các, còn đối với cô nương xinh đẹp họ lại tỏ ra xem thường.
Dương Tử ngạc nhiên, không hiểu tại sao, bèn đi hỏi người hầu phòng. Người hầu phòng thì thào: “Cô nương xinh xắn kia luôn cho mình xinh đẹp hơn người, nhưng tôi chẳng thấy cô ta đẹp ở chỗ nào. Còn cô nương kém xinh xắn kia luôn cảm thấy mình khó coi, nhưng tôi chẳng thấy cô ấy xấu gì cả”.
Dương Tử im lặng một lúc rồi buột miệng: “Tôi hiểu rồi, làm điều tốt nhưng luôn khiêm tốn không nhận là mình đã làm, cách cư xử đó dù ở đâu cũng được mọi người ủng hộ, yêu mến”. Quả đúng như Lão Tử nói: “Ta không tranh, nên thiên hạ không tranh với ta”.
Dương Tử là một nhà triết học nổi tiếng thời Chiến quốc. (Ảnh: vi.wikipedia.org)
Càng khiêm nhường, càng được tôn kính
Mở đầu cuốn “Nghiêu Điển – Thượng Thư” có mô tả Vua Nghiêu như sau: “Duẫn, cung, khắc, nhượng, được tứ phương ca ngợi, được lòng hết thảy trên dưới. Ước thúc đạo đức tốt đẹp, gần gũi cửu tộc. Bình ổn bách tính, hòa thuận vạn bang”. Duẫn, cung, khắc, nhượng tức là bốn đức tính thành tín, cung kính, thiện năng, khiêm nhường.
Trong bốn loại mỹ đức này, đức tính khiêm tốn của Vua Nghiêu được đề cao nhất. Tuy là bậc kỳ tài nhưng ông vẫn cho rằng mình chưa đủ tài năng đức độ, chỉ lo mai một nhân tài, thường vào núi sâu rừng già tra xét cẩn thận lại chính mình, cầu người hiền học đạo, trước sau ông từng bốn lần nhượng lại ngôi Thiên tử cho những nhân sĩ hữu đạo nổi tiếng là Phương Hồi, Thiện Quyển, Phi Y, Hứa Do.
Đường Nghiêu từng nói: “Người trong thiên hạ, người vì việc công, phàm đều là người chí công vô tư, là bậc hiền giả đáng được suy tôn, là người thực thi đại đạo của thiên hạ. Ta đức mỏng tài mọn, chỉ lo phạm lỗi với chúng sinh”. Nhiều nhân sỹ hiền đức thấy Nghiêu khiêm nhường cung kính như vậy, vô cùng tán thán: “Một lòng lo cho dân như vậy, hèn chi thần dân tung hô là Trời Nghiêu”.
Sau này ông khước từ chức đi ẩn cư học Đạo và nhường ngôi cho Vua Thuấn. Vương Dương Minh thời Minh nói: “Sở dĩ Nghiêu Thuấn có thể là Thánh nhân, chính vì sự khiêm nhường đến cảnh giới chân thành nhất, cũng chính là ‘duẫn cung khắc nhượng, ôn cung duẫn tắc”. Có thể thấy đạo người quân tử chính là dùng đức khiêm nhường mà dung nạp người khác, luôn luôn nghĩ đến người khác trước.
Đức khiêm nhường thụ phúc
Trong “Dịch Thư” có nói: Đạo lý của trời, bất luận thế nào, mọi sự kiêu ngạo tự mãn, sẽ khiến cho người đó phải chịu thiệt thòi, còn người khiêm tốn sẽ được nhiều lợi ích, hơn nữa khiêm nhường và kiêu ngạo, cũng là ranh giới giữa phúc và họa.
Vào Thời Minh, khi Viên Liễu Phàm cùng chín người trong huyện đi thi tiến sĩ, trong đó có một vị tên là Đinh Kính Vũ, tuy trẻ tuổi nhất nhưng là người khiêm nhường biết trọng lễ tiết. Viên Liễu Phàm liền bảo với Phí Cẩm Pha rằng: “Đinh Kính Vũ năm nay nhất định thi đỗ tiến sỹ”. Phí Cẩm Pha nói: “Làm sao mà biết được?”.
Nước càng sâu càng tĩnh. (Ảnh: dkn.tv).
Viên Liễu Phàm đáp rằng: “Khiêm nhường được phúc. Anh xem xem trong mười người chúng ta, có ai khiêm tốn bằng Đinh Kính Vũ, luôn giữ chữ tín, cung cung kính kính, trước đám đông, cậu ấy không kiên quyết giữ thành kiến của mình, có thể lắng nghe và tôn trọng ý kiến của người khác mà không hề tỏ chút kiêu ngạo. Dù là chuyện rất nhỏ, cậu ấy cũng nghĩ cho người khác, vì thuận tiện cho người khác, điều này quả thực khó có được! Một người có thể đạt được cảnh giới cao như vậy, Thần linh cũng sẽ bảo hộ cậu ấy, sao có thể có đạo lý thi trượt được!”. Quả thực đến lúc công bố bảng vàng, Đinh Kính Vũ đã thi đỗ.
Con người khi khiêm tốn, nỗ lực đề cao làm điều nhân đức, thì sự nghiệp sẽ thăng tiến. Người khiêm nhường thì cảnh giới tư tưởng không ngừng thăng hoa như đạo lý nhật tân: “Cẩu nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân” (Đối mới mỗi ngày, ngày ngày đổi mới, lại đổi mới mỗi ngày). Khiêm nhường là “phép tắc của trời đất”, có thể như nước bao dung và thiện hóa tất cả vạn sự vạn vật trên thế gian.
Chân Tâm

Xem thêm:

Vì sao người xưa xem trọng nhẫn nhục, luôn lấy đại cục làm trọng?

Xưa nay mấy ai làm nên việc lớn mà không thực hành chữ “Nhẫn”! Những câu chuyện nổi tiếng về khả năng nhẫn nhịn của các anh hùng trong lịch sử là một minh chứng cho điều đó. 
nói rằng: “Việc nhỏ không nhẫn, tất loạn việc lớn”, hay: “Bậc quân tử không có tranh giành”. Lão Tử cũng nói: “Thiên Đạo không tranh mà Thiện thắng, không nói mà Thiện ứng”. Phật gia cũng giảng: “Trong sáu phép độ và hàng vạn phương pháp tu hành, ‘Nhẫn’ là đệ nhất”. Nho gia nhấn mạnh vào sự thần thánh bên trong, Đạo gia nhấn mạnh vào gìn giữ sự nhu hòa, Phật gia giảng từ bi với tất cả chúng sinh. Tất cả đều mang theo nội hàm về chữ “Nhẫn”. Lùi một bước, biển rộng trời cao. Có khả năng “Nhẫn” thì mọi sự tất thành.
Trong “Luận Ngữ” ghi lại Khổng Tử nhắc nhở Tử Lộ (một môn đồ của Khổng Tử) như sau: “Hàm răng cương ngạnh nên mới dễ bị gẫy, cái lưỡi mềm mại nên mới dễ bảo tồn. Nhu nhuyễn nhất định thắng cương ngạnh, nhỏ yếu mà lại chiến thắng cường đại. Ham tranh đấu nhất định sẽ bị tổn thương, một mực khoe dũng nhất định sẽ dẫn tới diệt vong. Thái độ căn bản để làm mọi chuyện là: Nhẫn nhịn là tốt nhất”. Nhẫn là pháp bảo để tu thân và xử thế. Khổng Tử từng khuyên Tử Lộ rằng: “Trăm hành chi bản, nhẫn làm đầu”. 
Nhẫn không phải là thuận theo không nguyên tắc, cũng không phải biểu hiện của nhu nhược. Thường người có chí có đức, mới có thể bao dung điều người khác không thể bao dung. Khi bị người khác làm nhục, vẫn có thể cung kính khiêm tốn, tu tỉnh bản thân, mà không sinh ra tâm oán hận hay phẫn nộ. Người xưa thường dùng ý chí rộng rãi như vậy làm nguyên tắc đối nhân xử thế.
Khổng Tử từng khuyên Tử Lộ rằng: “Trăm hành chi bản, nhẫn làm đầu”. (Ảnh: biography.com)
Tướng soái Khấu Tuân nhẫn nhục lấy đại cục làm trọng
Khấu Tuân là vị tướng soái thời Đông Hán, được Quang Vũ Hoàng đế nể trọng. Ông không những thông hiểu kinh thư, mà còn là người luôn tu dưỡng đức hạnh, tại triều đình rất có danh tiếng. Ông gặp chuyện có thể nhẫn nhục nhượng bộ, không kể thù riêng, luôn luôn lấy đại cục làm trọng.
Khi đảm nhiệm chức Thái thú tại Toánh Xuyên, đã xử tử tại chỗ một thuộc hạ của một tướng lĩnh tên là Cổ Phục vì phạm tội giết người. Vì thế Cổ Phục cảm thấy rất sỉ nhục, lúc từ Nhữ Nam trở về đi ngang qua Toánh Xuyên, nói với người bên cạnh rằng: “Ta và Khấu Tuân đều là tướng soái, nhưng giờ bị hắn hãm hại, đại trượng phu làm sao để bị người ta khi dễ mà lại không cùng hắn nhất định phân cao thấp? Lần này gặp được Khấu Tuân, ta nhất định phải giết hắn”.
Khấu Tuân nghe nói xong thì không muốn gặp Cổ Phục. Cốc Sùng nói: “Cốc Sùng tôi là tướng lĩnh, có thể mang kiếm hầu bên cạnh, nếu đột nhiên có chuyện gì, có thể ngăn chặn được”.
Khấu Tuân liền nói: “Không được. Trước kia Lạn Tương Như không sợ Tần vương, nhưng lại khuất phục Liêm Pha, đó là vì quốc gia. Nước Triệu nhỏ bé, lại có người hiểu biết đạo lý như thế, ta làm sao có thể quên được?”. Vì thế đã ra lệnh cho các huyện sở tại hầu hạ bọn người Cổ Phục cho thật tốt, còn Khấu Tuân thì cố ý mượn cớ né tránh ông ta. Cuối cùng bọn người Cổ Phục đều uống rượu say, không truy tìm Khấu Tuân nữa mà rời đi.
Khấu Tuân phái người báo cáo chuyện vừa xảy ra cho Quang Vũ Hoàng đế biết. Quang Vũ Hoàng đế bèn triệu kiến Khấu Tuân, vừa vào cung đã thấy Cổ Phục ở đó trước rồi lại muốn né tránh. Quang Vũ đế nói với ông: “Thiên hạ còn chưa có yên ổn, hai hổ làm sao có thể tranh đấu riêng tư đây? Hôm nay ta tới giảng hòa”. Thế là 3 người cùng nói chuyện hết sức vui vẻ. Cuối cùng hai người kết làm bạn tốt, chào từ biệt nhau rồi về nhà.
Khi gặp chuyện mà không không thể nhẫn nhục nhượng bộ thì sẽ dẫn đến tai họa, hỏng việc hại người. Sử sách bình luận về Khấu Tuân như sau: “Khổng Tử nói: ‘Bá Di, Thúc Tề, không nhớ thù xưa, cho nên có ít kẻ thù’. Khấu Tuân là một ví dụ điển hình”.
Hành vi của Khấu Tuân không phải là trốn tránh sợ hãi, mà là tầm nhìn sâu rộng, là biểu hiện của người có đức hạnh và có thể hoàn thành việc lớn. Bởi nhượng bộ được, nên cuối cùng mối thù giữa ông và Cổ Phục có thể được hóa giải, hai người từ kẻ thù trở thành bạn hữu, cùng nhau giúp vương triều Đông Hán thống nhất được Trung Nguyên.
Tể tướng Hàn Kỳ nhẫn việc nhỏ để làm việc lớn
Hàn Kỳ là tể tướng thời Bắc Tống. Tính tình của Hàn Kỳ rất chất phác và đôn hậu, lòng dạ rộng rãi, luôn khoan dung độ lượng đối xử với mọi người. Ông từng nói: “Việc lớn muốn thành phải nhẫn việc nhỏ”. Vào thời Hàn Kỳ đóng quân tại Định Châu, có một lần ông đang ngồi viết thơ vào buổi tối nên đã gọi một binh sĩ cầm một ngọn nến đứng bên cạnh ông để chiếu sáng.
Binh sĩ này đứng cầm nến nhưng mắt lại nhìn đi chỗ khác, không ngờ nến bị nghiêng và đổ xuống đầu làm cháy tóc của Hàn Kỳ. Hàn Kỳ chỉ dùng ống tay áo dập lửa và lại tiếp tục viết thơ. Một lát sau, ông phát hiện binh sĩ cầm nến ban nãy đã được đổi thành người khác. Bởi vì, cấp trên của binh sĩ ban nãy sợ bị trách phạt nên đã cho đổi người. Hàn Kỳ thấy vậy lập tức nói: “Không cần đổi, bây giờ cậu ấy đã biết cầm nến rồi!”. Từ đó về sau, quan binh trong quân đoàn đều hết sức bội phục lòng bao dung độ lượng của Hàn Kỳ.
Lúc Hàn Kỳ đóng quân ở Đại danh phủ, có người biếu ông hai chiếc cốc ngọc quý giá, nói rằng đó là bảo vật có một không hai trên thế gian. Hàn Kỳ liền dùng bạch kim để cảm tạ người biếu ngọc. Ông rất yêu thích hai chiếc chén ngọc này, mỗi khi có tiệc chiêu đãi khách, ông đều cho người mang chén ngọc ra để trưng bày cho mọi người cùng được thưởng thức.
Cổ nhân dạy rất phải: “Người khoan dung không phải là kẻ ngốc, kẻ ngốc không giống như người khoan dung”. (Ảnh: blogrollcenter.com)
Một hôm, Hàn Kỳ tiếp một số quan lại quản lý về thủy vận, ông đã dùng hai chiếc chén ngọc này để mời khách quý uống rượu. Nhưng đột nhiên một người hầu lại đụng phải cái bàn và làm hai chiếc chén ngọc rơi vỡ. Những vị khách đều giật mình còn người hầu kia thì vô cùng sợ hãi và đã sẵn sàng chấp nhận chịu sự trừng phạt.
Hàn Kỳ khi ấy sắc mặt không thay đổi, cười và nói với những vị khách: “Sự tồn vong của bất kể vật nào đều là có quy luật!”. Sau đó ông lại quay sang nói với người hầu rằng: “Ngươi là do sơ xuất mà gây nên, thực sự không phải ngươi cố ý, có ai mà không sơ suất đâu?”. Tất cả những người chứng kiến đều bội phục đức hạnh và lòng khoan dung của ông mãi không thôi.
Cổ nhân dạy rất phải: “Người khoan dung không phải là kẻ ngốc, kẻ ngốc không giống như người khoan dung”. “Nhẫn được thì Nhẫn, kiềm chế được thì phải kiềm chế. Không Nhẫn không kiềm chế được, việc nhỏ thành việc lớn”. Tất cả đều nói với chúng ta đạo lý sâu sắc rằng “Lùi một bước, biển rộng trời cao, nhường ba phân trời quang mây tạnh” vậy.
Chân Tâm

Xem thêm:

Bất ngờ phát hiện tên gọi Thượng Đế trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử

Các đạo sĩ nhìn thấy toàn thể vũ trụ ngập tràn trong “Đạo Đức Kinh”, còn những nhà chính trị gia, khoa học gia đã thấy được những gì mà khiến cả Tây phương chấn động?
Joseph de Premare (1666—1736) là một mục sư tin lành người Pháp từng đến Trung Quốc vào năm 1698. Ông từng dùng tiếng Latinh để bình luận về “Đạo Đức Kinh” của Lão Tử. Ông là một mục sư chuyên nghiên cứu và dịch rất nhiều các loại sách kinh điển của Trung Quốc. Trong đó điều có ảnh hưởng lớn nhất tới ông đó là tư tưởng của Lão Tử. Thông qua “Đạo Đức Kinh” ông đã phát hiện ra tên của Thượng Đế.
Trong chương thứ 14 của “Đạo Đức Kinh”, Lão Tử viết: “Thị chi bất kiến danh viết di (Yi), thính chi bất văn danh viết hi (Hsi), bác chi bất đắc danh viết vi (Wei), Thử tam giả bất khả trí cật, cố hỗn nhi vi nhất“. Tạm dịch: “Nhìn không thấy, gọi là Di. Nghe không thấy, gọi là Hi. Nắm không được, gọi là Vi. Ba điều ấy không thể suy cứu đến cùng. Cho nên hợp lại làm một. Ông cho rằng Yihsiwei (雅赫维) cũng giống như Dimensional (夷希微) cũng chính là tên của đấng toàn năng Thần Giê-hô-va.
Phát hiện đáng ngạc nhiên này đã khích lệ một nhóm người của học phái hình tượng trong “Cựu ước toàn thư”, vốn là một đoàn từng thịnh hành một thời ở Châu Âu, muốn xác nhận độ tin cậy của nền văn minh Trung Hoa trong “Thánh Kinh”. Những người theo đuổi trường phái này thường triệu tập những hội nghị chia sẻ học thuật về Thượng Đế, Thần, Đạo, thậm chí tới ngày nay vẫn còn có người nghiên cứu về những điều đó.
Ronald Reagan thấy được nguyên tắc hành pháp trong Đạo Đức Kinh
Reagan là vị Tổng thống thứ 40 của nước Mỹ, tại vị trong hai nhiệm kỳ liên tiếp. Ông là vị Tổng thống đương nhiệm lâu đời nhất, lớn tuổi nhất trong lịch sử nước Mỹ cũng là vị tổng thống sống thọ nhất trong lịch sử.
Vào thời gian Tổng thống Reagan tới thăm Trung Quốc vào năm 1984, ông có tìm hiểu một chút về học thuyết Đạo gia của Trung Quốc. Trong bản báo cáo gửi Quốc hội về tình hình trong nước vào năm 1987, ông có trích dẫn một câu trong “Đạo Đức Kinh” của Lão Tử: “Trì đại quốc nhược phanh tiểu tiên”, tạm dịch: “Cai trị một nước lớn giống như nấu con cá nhỏ”, câu trích dẫn này đã tỏ rõ nguyên tắc chỉ đạo trong thi hành biện pháp chính trị khi đó của ông. 
“Đạo Đức Kinh” trong báo cáo của Tổng thống Reagan đã gây nên một hiệu ứng mạnh mẽ. (Ảnh: alouc.com)
Không những vậy ông còn nói rõ trong báo cáo gửi Quốc hội: “Trong hiến pháp của các nước khác, chính phủ nói với người dân phải làm như thế nào. Còn hiến pháp của nước chúng ta, là người dân nói cho chính phủ phải làm gì, hơn nữa chỉ có thể căn cứ theo quy định trong hiến pháp mà làm. Ở các cuộc cách mạng khác là dùng chế độ thống trị mới để thay thế cho chế độ thống trị cũ, còn cuộc cách mạng của chúng ta là do người dân làm chủ, chính phủ là người làm thuê, là người hầu của dân. Là do người dân quyết định”.
Câu nói đề cập tới “Đạo Đức Kinh” trong báo cáo của Tổng thống Reagan đã gây nên một hiệu ứng mạnh mẽ. “Lão Tử” trở thành cuốn sách bán chạy nhất tại Mỹ, có những lúc đồng thời có 8 nhà xuất bản cạnh tranh nhau đăng ký xuất bản “Đạo Đức Kinh” của Lão Tử, giá trị bản quyền lên tới 130.000 USD. Có thể thấy được từng chữ trong Đạo Đức Kinh đáng giá ngàn vàng như thế nào.
Niels Henrik David Bohr tự xưng là người đắc đạo
Niels Henrik David Bohr (1885 – 1962) là nhà vật lý học người Đan Mạch với những đóng góp nền tảng về lý thuyết cấu trúc nguyên tử và cơ học lượng tử sơ khai, nhờ đó mà ông nhận Giải Nobel Vật lý năm 1922. Bohr còn là nhà triết học và tích cực thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu khoa học. Năm 1937 khi có cơ hội tới thăm Trung Quốc, ông phát hiện được Thái Cực đồ của Đạo gia chính là cơ sở bổ sung cho nguyên lý trong triết học.
Nguyên nhân bởi hệ âm dương trong Thái Cực đồ của Đạo gia là có mối quan hệ thống nhất trong đối lập, trong âm có dương và trong dương có âm. Khi tìm hiểu sâu hơn một bước, ông hết sức kinh ngạc phát hiện rằng từ 2500 năm trước đây, Lão Tử đã đề cập tới tư tưởng “vạn vật trong vũ trụ tồn tại đều có hai mặt đối lập âm và dương”, cả hai cùng hỗ trợ bổ sung cho nhau. 
“Đạo khả đạo, phi thường đạo, danh khả danh, phi thường danh”, nghĩa là: “Đạo (mà) có thể gọi được, không phải là Đạo vĩnh hằng. Tên mà có thể gọi được, không (còn) phải là tên vĩnh hằng. Đó chính là khái niệm về lý tương sinh tương khắc. Có thể thấy rõ điều đó qua những câu khác trong “Đạo Đức Kinh” như: “Thiên hạ vạn vật sinh vu hữu, hữu sinh vu vô”, dịch nghĩa: “Vạn vật trong thiên hạ sinh ra từ Có, và Có sinh ra từ Không”. 
Niels Henrik David Bohr đã sớm nhận ra tư tưởng “vạn vật trong vũ trụ tồn tại đều có hai mặt đối lập âm và dương” của Lão Tử. (Ảnh: emaze.com)
Từ đó trong công việc của mình Bohr luôn có có sự liên hệ chặt chẽ với tư tưởng của Đạo gia. Ông chia sẻ: “Chúng ta ở đây đang đối diện với những điều cố hữu của xã hội nhân loại và những biểu hiện làm người ta khó quên trong mối quan hệ bổ sung của triết học cổ đại Trung Quốc“.Năm 1947, trong biểu tượng logo thiết kế trường phái Copenhagen của ông, phần trung tâm là Thái Cực đồ màu vàng đồng thời còn có thêm chữ khắc trên đồ vật vừa đối lập vừa bổ sung. Vào năm 1949 khi được hoàng gia Đan Mạch trao tặng huân chương, ông nói: “Tôi không phải là nhà sáng lập lý luận triết học mà chỉ là một người đắc đạo” và còn yêu cầu lấy hình ảnh của Thái Cực đồ làm hình nền của giấy chứng nhận danh dự.
Needham tuyên bố mình là một đạo sĩ danh dự
Joseph Needham (1900-1995) là nhà sinh vật học, khoa học lịch sử hai lần đoạt giải Nobel. Ông tự gọi mình là “đạo sĩ danh dự”, tự mình lấy tên Trung Quốc là Lý Nguyên. Để có thể nghiên cứu về văn hóa Trung Quốc, ông đã dốc hết tâm huyết dành thời gian hơn 30 năm từ năm 1956 – 1983 nghiên cứu và sáng tác ra cuốn sách “Science and Civilisation in China” (tạm dịch: Khoa học và văn minh Trung Hoa). Năm 1968, ông được liên hiệp khoa học và lịch sử học quốc tế lần thứ 12 trao tặng huy chương George Sutton.
Trong quá trình nghiên cứu và xác định vị trí chủ yếu của Đạo gia trong lịch sử khoa học kỹ thuật Trung Quốc, ông phát hiện tầm quan trọng của thế giới trong tư tưởng của Đạo gia. Là viện sĩ người nước ngoài của Viện Khoa học Trung Quốc, là tác giả bộ sách đồ sộ mà không nhà nghiên cứu về Trung Quốc nào không đọc, Needham luôn luôn nhắc lại quan điểm thực chứng của Lão giáo trong tác phẩm này.
Prigogine say mê tư tưởng của đạo gia
Prigogine (1917-2003)  là nhà hóa học người Bỉ gốc Nga và có sự nghiệp phát triển tại Mỹ. Ông đoạt giải Nobel Hóa học năm 1977. Ông cho rằng trong tư tưởng “Vô vi nhi vô bất vi” của Đạo gia ở Trung Quốc có tư tưởng về “tự tổ chức” và “vận động tự phát”. Điều này khi kết hợp với truyền thống của Tây phương, có lẽ sẽ hướng tới khuôn mẫu tự nhiên trong tương lai.
Trong các tác phẩm của mình ông hay thích dẫn dùng những điều nguyên tác trong tác phẩm của Lão Tử và Trang Tử như “từ tồn tại đến diễn hóa“, “từ hỗn độn đến có trình tự“, “tính phức tạp của sự tìm tòi” hay thậm chí là một câu rất dài như: “Đại đạo phiếm hề, kỳ khả tả hữu. Vạn vật thị chi nhi sinh nhi bất từ, công thành nhi bất hữu, y dưỡng vạn vật nhi bất vi chủ. Thường vô dục, khả danh vu tiểu; vạn vật quy yên nhi bất vi chủ, khả danh vi đại. Dĩ kỳ chung bất vi kỳ đại, cố năng thành kỳ đại“.
Nhà hóa học người Bỉ gốc Nga Prigogine cũng là người say mê tư tưởng của Lão Tử. (Ảnh: pinterest.com)
Tạm dịch: “Đạo lớn lan tràn khắp, có thể qua bên trái, qua bên phải. Vạn vật nhờ nó mà sinh trưởng mà nó không can thiệp vào, công thành rồi mà không nhận là của mình; nó nuôi dưỡng vạn vật mà không làm chủ vạn vật. Nó vĩnh viễn là “không”, vô vi, cho nên có thể bảo nó là ẩn vi, (vô hình); muôn vật quy về nó mà nó không làm chủ, cho nên có thể bảo nó là lớn. Vì cho tới cùng, nó không tự nhận nó là lớn cho nên mới hoàn thành được cái vĩ đại của nó. Hay như câu: “Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên“, tạm dịch: “Người bắt chước Đất, Đất bắt chước Trời; Trời bắt chước Đạo; Đạo bắt chước tự nhiên”. 
“Đạo Đức Kinh” là một trong những cuốn sách nổi tiếng nhất lịch sử nhân loại, tương truyền được Lão Tử viết ra vào khoảng năm 600 TCN. Theo những ghi chép cổ, Lão Tử vì chán ngán cõi đời đen bạc, bèn đi về phía Tây ở ẩn. Khi qua cửa Hàm Cốc, ông gặp Doãn Hỷ làm quan giữ ải.
Cảm mến lòng mộ đạo của Doãn Hỷ, Lão Tử bèn để lại 5 nghìn chữ, chính là bộ “Đạo Đức Kinh”, dặn Doãn Hỷ cứ theo đó mà tu hành thì sẽ đắc đạo. Suốt hàng nghìn năm qua, đã có vô số nhà nghiên cứu giải nghĩa, tìm hiểu “Đạo Đức Kinh” nhưng tất cả đều thừa nhận rằng mình chưa từng hiểu thấu được hàm nghĩa bên trong của bộ sách này.
Theo soundofhope
Kiên Định biên dịch

Xem thêm:

Tăng Quốc Phiên: Đừng bận rộn mù quáng cả đời, đầu tiên phải làm đúng 4 việc này

Cả cuộc đời mình, dẫu luôn phải lo toan bao việc đại sự, nhưng Tăng Quốc Phiên đã làm đúng 4 việc. Muốn hiểu rõ đạo lý này, đầu tiên chúng ta cùng nhau đọc một câu chuyện nhỏ.
Câu chuyện ý nghĩa về tiểu hòa thượng và chiếc bát hóa duyên
Một tiểu hòa thượng bận rộn từ sớm đến tối. Một hôm cậu hỏi Sư phụ của mình: “Sư phụ ơi, hàng ngày con đều bận rộn như vậy, sao con lại chẳng có thành tựu gì thế ạ?”.
Vị sư phụ chỉ mỉm cười bảo tiểu hòa thượng mang chiếc bát hóa duyên của mình tới. Trước tiên ông để đầy quả óc chó vào trong bát, sau đó đổ gạo lấp đầy bên trong. Cuối cùng ông đổ nước vào, và cái bát đã đầy.
Sư phụ lại lấy một chiếc bát hóa duyên khác. Lần này ông làm ngược lại, đổ nước vào trước tiên. Sau khi đổ nước ông mới lần lượt cho quả óc chó và gạo vào. Nước ngay lập tức tràn ra ngoài.
Lúc này, vị sư phụ mới từ tốn nói: “Sinh mệnh cũng giống như hai chiếc bát hóa duyên này. Nếu giống như cái bát thứ hai, chỉ biết chất đầy những chuyện vụn vặt thì hàng ngày dẫu bận rộn bạn cũng sẽ vẫn cảm thấy lo lắng bất an”.
Đời người có thể bận rộn, nhưng không nên bận rộn một cách mù quáng. Bạn cần dành thời gian và tâm sức vào những việc quan trọng.
Đời người có thể bận rộn, nhưng không nên bận rộn một cách mù quáng. (Ảnh: thoimoi.vn)
Vun đắp mái ấm gia đình
Gia đình là nơi duy nhất trên thế giới che dấu khuyết điểm và thất bại của con người. Đồng thời đó cũng là nơi chứa đựng sự ngọt ngào, ấm áp, vun đắp tình yêu thương trong tâm hồn mỗi người. Một gia đình hạnh phúc, thư thái là ngọn nguồn của niềm vui.
Trong cuộc đời, điều quan trọng nhất là gia đình. Ngày càng có nhiều người dành phần lớn thời gian và tinh sức của mình vào những chuyện khác mà coi nhẹ gia đình.
Chúng ta dường như đã quên điều quan trọng này. Sự cố gắng và nỗ lực của chúng ta lẽ nào chẳng phải vì để gia đình hạnh phúc hay sao? Nếu vì sự nghiệp mà đảo lộn cuộc sống gia đình, thì e rằng chúng ta đã đảo lộn giữa gốc và ngọn. Gia đình là quần thể sớm nhất mà con người tham dự, đa phần thời gian trong cuộc đời mỗi người đều trải qua trong gia đình. Một gia đình ấm áp và hòa thuận có thể khơi dậy những tiềm năng của con người.
Gia đình cần sự cống hiến, chứ không phải một mực đòi hỏi. Gia đình cần phải hạnh phúc và những thành viên trong gia đình cùng nhau trưởng thành về tinh thần. Mỗi thành viên trong gia đình đều phải gánh vác trách nhiệm của mình.
Mặc dù cả đời mình Tăng Quốc Phiên đều tham dự việc triều chính, việc chính sự vô cùng bận rộn, nhưng ông lại rất mực coi trọng vun đắp cho gia đình.
Cả đời mình, ông để lại rất nhiều tác phẩm lớn như cuốn “Tăng Quốc Phiên gia thư” (Thư nhà của Tăng Quốc Phiên) được lưu truyền rộng rãi. Trong cuốn sách này ông đều đưa ra những yêu cầu nghiêm khắc đối với con cái, anh em và con cháu trong gia tộc. Vậy nên gia tộc họ Tăng mới có thể phát triển bền vững, hưng thịnh và sản sinh ra không ít những vị đại sư nổi tiếng.
Tăng Quốc Phiên (1811-1872) Ông là tướng lĩnh chỉ huy Tương quân (đoàn quân khởi phát ở Tương Hương), cánh quân chủ lực trong cuộc chiến chống quân Thái Bình Thiên Quốc. (Ảnh: tinhhoa.net)
Kết giao đúng bạn
Con người luôn muốn thông qua cách thiết lập và duy trì những mối quan hệ thân thiết để tìm cảm giác mình được thuộc về một nơi nào đó. Kết bạn với người như thế nào có thể sẽ quyết định cuộc đời của bạn như thế nấy.
Bạn bè cũng có nhiều kiểu như ‘bạn nhậu’, bạn khi khó khăn, hoạn nạn… Chúng ta thường nói “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”, “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”. Bạn bè sẽ ảnh hưởng tới cả cuộc đời của bạn, nên nhất định phải chọn bạn mà chơi.
Một tình bạn chân chính giống như loài thực vật dần dần sinh trưởng suốt cuộc đời, phải trải qua và đứng vững trước những sóng gió của nghịch cảnh. Muốn kết bạn cần phải tìm những người bạn có thể cùng bạn đồng cam cộng khổ, chân thành, thẳng thắn và mang đến nguồn năng lượng tích cực cho bạn.
Người bạn chân chính sẽ có thể dự liệu được nhu cầu của đối phương, chứ không chỉ tuyên bố mình muốn gì.
Tăng Quốc Phiên cũng có tiêu chuẩn và yêu cầu với những người bạn của mình. Đạo kết giao bè bạn của ông có thể tổng kết là “8 kiểu bạn nên kết giao và 9 kiểu bạn không nên kết giao” (Bát giao cửu bất giao), “Kết giao với người đức dày, kết giao với người ngay thẳng… không kết giao với kẻ trục lợi, vong ân phụ nghĩa…”.

8 kiểu người nhất định phải kết giao trong đời

Trong rất nhiều bức thư Tăng Quốc Phiên gửi cho em trai mình là Tăng Quốc Toàn, ông đều nhiều lần đề cập tới tầm quan trọng của bạn bè. Ông nhấn mạnh rằng cần phải lựa chọn kỹ lưỡng trước khi kết bạn. Bởi lẽ “có thầy, có bạn giúp đỡ thì kẻ nhát gan cũng biết lập chí”, “thành bại của đời người đều liên quan tới việc có bạn hiền hay không, không thể không thận trọng”.
Người bạn chân chính sẽ có thể dự liệu được nhu cầu của đối phương, chứ không chỉ tuyên bố mình muốn gì. (Ảnh: tinhhoa.net)
Tìm đúng vị trí
Mỗi người đều hy vọng trong cuộc đời ngắn ngủi của mình có thể sống thong dong, tự tại, và có nghĩa. Nhưng chỉ khi tìm đúng vị trí của mình,con người mới có thể nhìn thấy cảnh đẹp ở bất cứ nơi đâu.
Đôi khi nỗ lực cũng không đạt được thành quả như dự tính, có thể là hướng nỗ lực của bạn đã có vấn đề gì chăng?
Đừng quá coi trọng sự đánh giá hay cách nghĩ của người khác. Dẫu người khác đo lường bạn thế nào cũng không quan trọng bằng bạn đánh giá bản thân như thế nào. Tìm đúng vị trí và hiểu rõ điều gì phù hợp với bản thân mình. Đừng ngưỡng mộ hay chạy theo vị trí của người khác một cách mù quáng.
Cuộc sống giống như một sân khấu. Mỗi người đều cần diễn thật đạt vai của mình, nhưng lại đừng mang vai diễn trong công việc ấy về nhà. Công việc có tính chất của công việc, còn gia đình lại không phải là nơi phân định đúng sai rạch ròi. Gia đình là nơi bao dung sự khác biệt, yêu thương và khích lệ, nâng đỡ lẫn nhau sống tốt hơn và có ích cho đời.
Tăng Quốc Phiên nói: “Đào rất nhiều giếng mà không thấy mạch nước là do lỗi không chuyên” (Quật tỉnh đa nhi vô tuyền ẩm, bất chuyên chi cữu dã). Từ một vị Thị lang chịu tang tới thống soái của Tương quân, Tăng Quốc Phiên đã tìm đúng vị trí của mình và mở ra một vùng trời thành công.
Chăm sóc tốt cho bản thân
Giá trị của sức khỏe không gì có thể sánh bằng. Nó là thứ duy nhất đáng để con người phó xuất thời gian, tâm huyết, sự lao lực, tiền của, thậm chí là cả sinh mệnh để truy cầu.
Sức khỏe không tốt thì mọi thứ đều không tốt. Sức khỏe tốt thì cuộc sống mới có niềm vui. Công danh lợi lộc có thể đạt được nhờ sự nỗ lực, nhưng một khi con người mất đi sức khỏe, thì chỉ sự nỗ lực cũng chẳng thể vớt vát được gì.
Sức khỏe là tài sản lớn nhất của con người. Khi đến tuổi trung niên chăm sóc tốt cho bản thân mình chính là sự đầu tư thông minh nhất.
Ăn uống một cách hợp lý, chăm chỉ rèn luyện thân thể là cách tốt có thể giữ gìn sức khỏe. Muốn có một sức khỏe tốt thì phải có một tâm thái tốt. Muốn có một tâm thái trẻ trung thì cần luôn tiếp xúc với những điều mới lạ, nuôi dưỡng hứng thú sở thích, ít tức giận, thường vui vẻ, trân trọng từng ngày trong cuộc đời mình.
Sức khỏe không tốt thì mọi thứ đều không tốt. Sức khỏe tốt thì cuộc sống mới có niềm vui. (Ảnh: kaiwind.com)
Tăng Quốc Phiên tạ thế ở tuổi 62. Ngày nay độ tuổi đó không được coi là trường thọ, nhưng hơn 100 năm về trước ông đã vượt quá ngưỡng tuổi thọ bình quân của con người thời bấy giờ.
Sức khỏe của Tăng Quốc Phiên không tốt lắm. Ông mắc nhiều chứng bệnh, nhưng bù lại, ông lại vô cùng coi trọng việc dưỡng sinh. Ông thường nói “Trị tâm cần dùng hai chữ “quảng đại” làm thuốc. Trị thân cần dùng hai chữ “không thuốc” làm thuốc”.
Về phương diện giữ gìn sức khỏe, Tăng Quốc Phiên có một bộ phương pháp riêng của mình. Giữa năm Đồng Trị, Tăng Quốc Phiên đề xuất “6 việc dưỡng sinh”. Ông cho rằng “Dưỡng sinh lấy giảm bớt phiền não làm gốc, chí cường mà thân bất nhược, mới là biểu tượng chấn hưng trong gia đình”.
Con người giống như giải từng câu đố. Có người không ngừng vẽ vẽ vạch vạch, nhưng hiệu quả thu được lại không nhiều. Có người hành sự quyết đoán, chỉ vài nét đơn sơ đã có được đáp án chính xác. Vấn đề có điểm then chốt, việc trên thế gian cũng có nặng nhẹ nhanh chậm khác nhau.
Hãy giảm bớt sự bận rộn mù quáng, dành thời gian vào những việc quan trọng cho bản thân và gia đình yêu thương của bạn. Đừng để sự bận rộn mù quáng hao tổn sinh mệnh của bạn. Đừng để đến khi tóc bạc da mồi, quay đầu nhìn lại trong lòng lại tràn đầy niềm tiếc nuối mà thôi.
Theo Soundofhope
Hiểu Mai biên dịch

Xem thêm: