Kỳ lạ ngôi mộ biết ‘phát năng lượng chữa bệnh’ tại Hà Nội

Làm thế nào mà một ngôi mộ được chôn cất từ năm 1983, lại được nhang khói và viếng thăm hàng ngày, liên tục không ngừng nghỉ suốt 34 năm? Càng kỳ lạ hơn, khi những người đến viếng thăm phần nhiều không hề quen biết chủ mộ, chưa từng gặp mặt hay có họ …
The post Kỳ lạ ngôi mộ biết ‘phát năng lượng chữa bệnh’ tại Hà Nội appeared first on Đại Kỷ Nguyên.

Nghiên cứu: Cơ thể người phát ra ‘hào quang’, và mối liên hệ đáng kinh ngạc với sức khỏe thể chất

Nhà vật lý người Nga chụp ảnh ‘hào quang’ cơ thể người, phát hiện mối liên hệ đáng kinh ngạc với sức khỏe thể chất.
Một nhà vật lý người Nga phát hiện “hào quang” và trường năng lượng cơ thể có ảnh hưởng rất thực tại đến sức khỏe thể chất một cá nhân.

Một phương pháp chụp ảnh “hào quang (aura)” cơ thể người có lịch sử hơn trăm năm đã được nhà vật lý người Nga, TS Konstantin Korotkov làm sống lại vào thế kỷ 21.
Phương pháp chụp ảnh Kirlian có nguồn gốc từ thế kỷ 17, nhưng chỉ thực sự được hệ thống hóa vào thập niên 1940. Phương pháp chụp ảnh Kirlian có thể được hiểu một cách đơn giản như sau: đặt một vật thể trên một đĩa kim loại, sau đó phủ tấm phim chụp, rồi truyền dòng điện để tích điện cho chiếc đĩa. Khi tấm phim được rửa ra, nó sẽ hiện hình ảnh vật thể với một trường nhiều màu sắc xung quanh.
Ảnh chụp thu được của các vật thể bằng phương pháp Kirlian. Ảnh: Pinterest
Ảnh chụp hào quang cơ thể người bằng phương pháp Kirlian. (Ảnh: the Epoch Times)
Về trường này, một số người cho rằng nó chính là trường năng lượng sinh học tự nhiên của cơ thể sống, một dạng năng lượng có liên hệ đến tinh thần mà cơ thể phát ra, số khác nói rằng đó chỉ đơn giản là nhiệt độ hay độ ẩm cơ thể tạo thành.
Bản thân ông Kirlian từng nói độ mạnh hay yếu của trường này có thể cho thấy tình trạng sức khỏe tốt hay xấu của một người.
Korotkov là một trong số các nhà khoa học nối gót Kirlian khi tiếp tục sử dụng công nghệ này vào thế kỷ 21. Ông hiểu rằng nhờ phương pháp chụp ảnh Kirlian, chúng ta có thể quan sát được một trường năng lượng tương tự như “khí” trong Đông Y. Ông ứng dụng phương pháp này trong phòng ngừa và điều trị bệnh.
Tiến sỹ vật lý người Nga Korotkov. Ảnh: The Epoch Times
TS Korotkov tạo ra thiết bị điện tử Kirlian đầu tiên vào năm 1995 và hiện ông vẫn đang tiếp tục hoàn thiện loại công nghệ này. Ông đã sử dụng nó trong rất nhiều thí nghiệm để kiểm tra xem các yếu tố như bệnh tật, tình yêu, sự nóng giận… có ảnh hưởng như thế nào đến hào quang cơ thể người.
Thông qua những thí nghiệm này, ông dần dần nhận thấy rằng ảnh chụp Kirlian không chỉ đơn thuần ghi nhận được độ ẩm hay nhiệt từ cơ thể, mà rõ ràng còn có liên hệ với một nguồn năng lượng thâm sâu hơn, tinh tế hơn.
Một trong những lý do chính khiến Korotkov tin rằng hiệu ứng này không thể được giải thích bằng các yếu tố thông thường như nhiệt độ hay độ ẩm là vì, ông đã tìm thấy mối liên hệ giữa trường năng lượng được nhìn thấy qua thuật chụp ảnh Kirlian và các kênh năng lượng trong y học cổ truyền phương Đông (hay đông y).
Bảng sơ đồ các huyệt đạo trên cơ thể từ thời nhà Minh, Trung Quốc. Ảnh: The Epoch Times
Ông tiến hành đo đạc hào quang, hay còn gọi là hiệu ứng Kirlian, rồi phát triển các tham số toán học để phân tích mối liên hệ giữa nó với năng lượng và chức năng của các bộ phận khác nhau trong cơ thể. Trong quá trình ấy, ông nhận ra rằng những hiểu biết của đông y về các kênh năng lượng và các đường kinh mạch (kỳ kinh bát mạch) là chính xác.
Ông cũng nhận ra rằng lòng yêu thương và trạng thái cảm xúc tích cực là những yếu tố vô cùng quan trọng để đảm bảo một hào quang khỏe mạnh; rằng suy nghĩ của con người có thể tác động đến hào quang của những người khác, ngay cả từ khoảng cách xa, và rằng âm nhạc cổ điển có thể giúp tăng cường hào quang này.
Ông Korotkov nhận thức được rằng, một số người có thể chỉ trích phương pháp chụp ảnh Kirlian, bởi họ cho rằng kĩ thuật này không tương thích với phương pháp khoa học phổ biến của phương Tây. Ông nói:
“Chúng tôi dựa trên đông y truyền thống, và không phải tất cả các bác sĩ đều chấp nhận ý tưởng này. Họ cần bắt tay nghiên cứu sâu hơn để hiểu được điều này, và… nhiều bác sĩ hay các nhà khoa học có thể đã quá bận rộn để dành chút thời gian cho nó”.
“Ngoài ra [trong phương pháp này] chúng ta đang đề cập đến các yếu tố như cơ thể vật lý, tinh thần, ý thức, linh hồn. [Các bác sĩ Tây y], họ là dựa trên một phương thức tiếp cận mang tính duy vật, do đó họ chỉ xét đến cái cơ thể vật lý này mà thôi. Họ không muốn chấp nhận sự tồn tại của ý thức và linh hồn, cũng như ảnh hưởng qua lại giữa nó và sức khỏe con người. Đó là lý do tại sao tôi không sẽ không tỏ ra ngạc nhiên khi nhiều người trong giới y học sẽ không chấp nhận nó một cách rộng rãi ngay tức thì. Bởi vì phương pháp này đang được nhận thức, dù rằng từng bước từng bước khá chậm rãi, nhưng nó đang được dần dần hiểu rõ”.
TS. Korotkov ứng dụng thuật chụp ảnh Kirlian không chỉ trong điều trị bệnh mà còn trong phòng bệnh
(Ảnh: the Epoch Times)
Ông dẫn một ví dụ về một người phụ nữ đến gặp ông với rất nhiều triệu chứng bệnh, bao gồm mệt mỏi, trầm cảm và đau đớn ở những bộ phận khác nhau trên cơ thể. Cô đang phải uống nhiều loại thuốc khác nhau để điều trị từng triệu chứng bệnh đó.
Sử dụng thuật chụp ảnh Kirlian, ông xác định được các vùng bị yếu trong hào quang của cô và đề xuất các bài tập để tăng cường củng cố năng lượng tại những vùng đó. Nhờ vậy, cô đã đã nhanh chóng hồi phục và không còn phải uống thuốc nữa. Theo ông Korotkov, hàng ngàn bác sĩ trên khắp thế giới hiện đang ứng dụng rất thành công phương pháp này.
Ở Trung Quốc cổ đại, các bác sĩ có trách nhiệm giữ gìn sức khỏe cho bệnh nhân, phòng bệnh hơn chữa bệnh. Nếu một người bị bệnh, các bác sĩ sẽ không được trả tiền cho tới khi sức khỏe bệnh nhân hồi phục trở lại. Điều nghe có vẻ khó tin, nhưng nó từng được áp dụng thời cổ đại ở rất nhiều nước Á Đông, bao gồm Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Hàn Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản. Đây là triết lý căn bản của đông y đã được thực hành trong hơn 3.000 năm lịch sử – phòng bệnh và  giữ gìn sức khỏe – chứ không phải có bệnh rồi mới để tâm chạy chữa. Ngược lại, ở phương Tây, thì khá khác biệt. Các chuyên gia chăm sóc sức khoẻ và các công ty dược phẩm sẽ kiếm được tiền mỗi khi người bệnh mua thuốc. Yếu tố phòng bệnh được nhắc đến, nhưng không được đặt lên quá cao.
Ông không phản đối y học phương Tây. Ông có vợ là một bác sỹ Tây y. Thay vào đó, ông cho rằng phương pháp này có thể được ứng dụng kết hợp với Tây y.
“Nếu người bệnh có một số vấn đề sức khỏe nghiêm trọng như đau tim, thì họ nên đến bệnh viện để được điều trị. Nhưng để ngăn ngừa tình trạng nghiêm trọng này, chúng ta lại phải viện đến sức mạnh của y học tích hợp (integrative medicine) [1] và y học cổ truyền, bởi nó có sức mạnh to lớn trong việc giữ gìn sức khỏe của bệnh nhân”, ông giải thích.
Các cảm xúc tiêu cực phá hủy trường năng lượng của cá nhân cũng như trường năng lượng của những người xung quanh, TS. Korotkov chia sẻ.
Hào quang của một người được tăng cường nhờ các cảm xúc tích cực như niềm vui, sự hài hước và lòng yêu thương. TS Korotkov nói:
“Nếu người ta có những cảm xúc tiêu cực – tức giận, đố kỵ – thì nó sẽ làm suy giảm trường năng lượng, khiến trường năng lượng thu nhỏ và thậm chí đôi lúc biến mất”
Kết quả nghiên cứu của ông cho thấy, các cảm xúc tiêu cực hướng đến ai đó có thể làm suy giảm trường năng lượng của người đó, thậm chí từ khoảng cách xa.
Ông đã chụp các bức ảnh của một cặp đôi và nhận thấy hào quanh của họ đan xen vào nhau.
Ngược lại, đối với những người không có kết nối về mặt cảm xúc (hai người không quen biết nhau), thì sẽ có một khoảng trống giữa các hào quanh của họ.
Lòng yêu thương giúp chữa lành.
(Ảnh: the Epoch Times)
Bức ảnh TS. Korotkov chụp hiệu ứng Kirlian giữa hai ngón tay của một cặp đôi. (Ảnh: the Epoch Times)
“Khi chúng ta chia sẻ lòng yêu thương, chúng ta truyền dẫn dạng năng lượng này, không phải trong trí tưởng tượng, mà nó là sự biến đổi thực tại về năng lượng vật lý. Đó là lý do tại sao khi một người nhận được sự yêu thương, họ hồi phục nhanh hơn hẳn. Họ sẽ nhận được các cảm xúc tích cực, và điều này sẽ hỗ trợ họ trong quá trình hồi phục vết thương”.
Một người khỏe mạnh có trường năng lượng mạnh mẽ, đầy đủ. Một người bị bệnh thì trường năng lượng của họ xuất hiện các lỗ hổng hay kẽ hở, Korotkov cho hay.
Hào quang người ta phát ra khi có các cảm xúc tích cực. Ảnh: weebly
Khi đi khám phá sâu hơn về mối liên kết siêu thường và vô hình giữa những người thân yêu, Korotkov phát hiện ra rằng trường năng lượng của một người sẽ xuất hiện phản ứng khi người thân (VD: người yêu) của họ đang ở gần, ngay cả khi chưa nhìn thấy người đó. Hiện tượng này chỉ ra rằng mối liên kết cảm xúc cho phép một người cảm nhận được bằng trực giác sự hiện diện của người kia mà không dùng đến năm giác quan thông thường. Theo một cách hiểu nào đó, trong những trường hợp như vậy, họ dường như đã viện đến giác quan thứ 6.
Ngồi thiền và nghe nhạc cổ điển giúp tạo nên một hào quang khỏe mạnh, bền chắc và ổn định hơn.
(Ảnh: the Epoch Times)
Korotkov đã thực hiện nghiên cứu về ảnh hưởng của âm nhạc lên hào quang của con người. Nghe nhạc cổ điển có một tác dụng tích cực. Nhạc rock mạnh cũng sẽ giúp tăng cường năng lượng của người nghe, nhưng sau đó sẽ dẫn đến một sự sụt giảm nhanh chóng.
Theo TS. Korotkov, mặc dù nghe nhạc cổ điển có thể giúp duy trì trạng thái hào quang ổn định, nhưng phương pháp tốt nhất chính là ngồi thiền và các bài tập chú trọng tăng cường sức mạnh nội tại như yoga hay khí công.
“Cùng nhau, chúng ta sẽ tạo ra một trường ý thức tập thể”
(Ảnh: the Epoch Times)
Tóm tắt nghiên cứu của mình, ông Korotkov nói:
“Sau hơn 30 năm nghiên cứu, chúng tôi đi đến kết luận rằng con người không chỉ là một cơ thể vật chất, chúng ta là hơn thế rất nhiều. Chúng ta có tinh thần, có ý thức [để nhận biết sự vật hiện tượng, và khái niệm tinh thần hay ý thức này cũng không bị giới hạn trong không gian chật hẹp của bộ não], mà chúng còn tồn tại ở cả bên ngoài [bộ não này]. Vậy nên khi chúng ta mở rộng ý thức của mình, chúng ta mở rộng tầm hồn chúng ta ra môi trường xung quanh. Cùng nhau, chúng ta tạo nên một trường ý thức tập thể”.
“Khi chúng ta phát xuất ra các cảm xúc tích cực, khi chúng ta có một loại cảm nghĩ tích cực, chúng ta sẽ có thể tác động một cách tích cực đến những người khác. Ngược lại, khi chúng ta phát xuất ra các cảm xúc cũng như cảm nghĩ tiêu cực, thì chúng ta cũng sẽ tác động một cách tiêu cực đến những người xung quanh. Chỉ khi chúng ta có các cảm nghĩ tích cực và một thái độ tích cực với mọi người,… thì chúng ta mới có thể tạo nên một thế giới tốt đẹp hơn”.
Theo Đại Kỷ Nguyên tiếng Anh
Ngự Yên biên dịch
Chú thích:
[1] Y học tích hợp (Integrative Medicine): Mục tiêu chính của Y học tích hợp đó là nâng cao thể trạng của bệnh nhân, phòng bệnh hơn chữa bệnh. Áp dụng với bệnh nhân ung thư, thì y học tích hợp sẽ nhằm mục đích ức chế sự phát triển tế bào ung thư bằng cách an toàn nhất, không gây ảnh hưởng đến cơ thể người bệnh như các liệu pháp hóa trị, xạ trị. Nó bao gồm các phương pháp nhỏ như thiền, yoga, âm nhạc, dùng chất chống ung thư từ tự nhiên…
Hóa trị và xạ trị mặc dù có những lợi tác dụng ngăn chặn ung thư nhất định, nhưng lại tiềm ẩn nhiều tác dụng phụ vì thế không thể sử dụng phương pháp này liên tục cho bệnh nhân mà phải cách khoảng từ 2 tuần – 1 tháng.
Y học tích hợp không đơn thuần sử dụng các dược chất chống ung thư mà bao gồm luôn cả chế độ dinh dưỡng phù hợp, kết hợp với lối sống lành mạnh, thể dục thể thao, thái cực quyền, yoga… làm tăng thể trạng của bệnh nhân lên. Chăm sóc sức khỏe của bệnh nhân không những ở mặt thể chất mà còn về tinh thần nữa, vì tinh thần là yếu tố liên hệ chặt chẽ với nhau trong việc điều trị ung thư.

Xem thêm:

Trong trạng thái hôn mê, người đàn ông kể lúc 19 tuổi từng ghé thăm địa ngục, trải nghiệm hết sức kinh hoàng

Trong trạng thái hôn mê, người đàn ông kể lúc 19 tuổi từng ghé thăm địa ngục, có trải nghiệm kinh hoàng
Đây là câu chuyện đầy ly kỳ được một người tên Jeffrey C. chia sẻ trên trang web của Tổ chức Nghiên cứu Trải nghiệm cận tử.

Năm 19 tuổi, Jeffrey C. đã cố gắng tự tử khi phát hiện bạn gái ngoại tình với người bạn thân nhất của mình. Anh đã uống rất nhiều thuốc và rượu, sau đó ngất đi. Phát hiện ra điều bất thường, mẹ anh đã vội vàng gọi xe cấp cứu.
Điều tiếp theo anh có thể nhớ được là hình ảnh một vị bác sĩ đứng cạnh bên. Có lẽ linh hồn anh đã rời khỏi xác (linh hồn ly thể) nên mới có thể quan sát được cảnh tượng này. Sau đó linh hồn anh tiến nhập vào cơ thể của vị bác sĩ:
“Tôi tiến vào bên trong ông ấy và nhìn thấy hình ảnh vợ, các con và chiếc xe hơi của ông. Tôi có thể cảm nhận được sự hốt hoảng của ông ấy”.
Linh hồn anh dường như đã xuất ra và tiến nhập vào cơ thể của vị bác sĩ, cho phép anh đọc được tư tưởng của vị bác sĩ.
Hình minh họa một ca hồi sức cấp cứu. (Ảnh: Getty Images)
Một sinh mệnh linh hồn nắm lấy tay anh và kéo anh ra khỏi đó. Anh có thể nhìn thấy một bác sĩ và y tá đang cố gắng hết sức để giúp anh hồi phục. Sinh mệnh này đã dẫn anh vào một “cột trụ ánh sáng”. Thoạt đầu, anh nghĩ mình đang ở trên thiên đường, bởi nơi đó có những bức tường giống mây. Nơi ấy, anh đã nhìn thấy người bà quá cố của mình.
Nhưng rồi anh thấy mình đang ở trong một không gian bốc mùi hôi thối với những người có khuôn mặt giống chó rừng. Một sinh vật giống quỷ túm lấy anh và mang anh đến một nơi chứa đầy các khối hộp xếp chồng.
Một sinh vật giống quỷ bảo anh rằng mỗi người đều có một căn ngục được làm riêng cho họ.
(Ảnh: Epoch Times)
“Hắn bảo tôi rằng đây là địa ngục, và trong mỗi khối hộp là một địa ngục được làm riêng cho mỗi linh hồn. Hắn giải thích rằng mọi người sẽ thích ứng với từng dạng địa ngục, và một số người thì có thể chịu đựng một số dạng địa ngục tốt hơn người khác, cho nên hoàn cảnh địa ngục sẽ liên tục thay đổi. Hắn ta vui sướng khi chứng kiến con người chịu đau khổ”.
Anh bị hút vào một trong những khối hộp, tại đây anh bị chế nhạo, và bị bắt phải ăn thức ăn ôi thiu. Sau đó, anh được cho thấy tất cả những điều xấu xa mình từng làm trong đời.

“Trước đây tôi đã làm những điều xấu đối với họ. Giờ đây tôi bị đặt vào đúng vị trí đó”.

“Tôi có thể trông thấy mình đã vô cảm với mọi người đến mức độ nào, và thậm chí còn không biết điều đó. Đó quả là một nỗi thống khổ vô cùng tận khi phải “sống lại” những điều tôi đã quên hay chỉ đơn giản là không buồn quan tâm trước đây. Trong tình huống đó, tôi đã bị bắt phải trải qua cái cảm giác của những người bị tôi đối xử tệ hại”, anh nói.
Và rồi anh nhận thấy mình đang quỳ gối trong một hang động, với những người khác cũng đang quỳ xung quanh.
(Ảnh: Epoch Times)
“Tôi nhìn thấy một cô gái trẻ đang quỳ, với các vết cắt trên cổ tay, và một người đàn ông với một sợi dây thừng thòng qua cổ, và một người khác với phần sau đầu bị cháy. Tôi có thể nghe thấy tiếng la hét phát ra từ hang động phía trước mặt, và tôi đã cố gắng nói chuyện với mọi người xung quanh để biết được rốt cục tôi đang ở đâu. Một trong số họ bảo tôi hãy im lặng nếu không tôi sẽ trở thành người tiếp theo. Rồi một con quỷ khổng lồ, xấu xí chui ra từ hang đông, túm lấy họ và kéo họ vào bên trong”.
Khi anh nhắm mắt trở lại, đột nhiên đầu óc anh lại bị tràn ngập một lần nữa bởi những hình ảnh về những điều xấu xa anh từng làm. Anh nhận ra rằng đó là lý do tại sao mọi người ở đó đều mở to mắt, bởi họ biết họ sẽ phải trải qua những cảnh tượng này nếu họ nhắm mắt lại.
“Bạn không thể nhắm mắt. Bạn không thể nói chuyện với người khác. Bạn không thể đứng dậy. Bạn cũng không thể ngồi xuống. Bạn chỉ có thể quỳ trên đầu gối và các đầu ngón chân. Tất cả điều bạn có thể làm là nhìn chằm chằm vào hố lửa, lắng nghe các tiếng la thét, và hi vọng mình không phải là người tiếp theo”, Jeffrey cho hay.
Tuy nhiên, vẫn còn hi vọng
(Ảnh: Epoch Times)
“Sau một thời gian dài, hai mắt tôi bắt đầu trở nên đỏ hoe và bỏng rát ghê gớm [có thể do thiếu ngủ]. Cuối cùng tôi hạ quyết tâm tôi nhất định sẽ chợp mắt trong giây lát, và tôi sẽ có thể chịu được ít nhiều những cảnh tượng khủng khiếp kia. Tôi bắt đầu khóc thổn thức, nghẹn ngào trong sư câm lặng đến chết chóc khi cảnh tượng về những hành động xấu xa của tôi ập đến trước mặt. Trong nỗi tuyệt vọng tột cùng, đột nhiên tôi nghe thấy một giọng nói vang lên từ hư không:

“Nếu con cầu xin Ngài, có thể Ngài sẽ cứu con””.

Và thế là Jeffrey đã liên tục không ngừng cầu xin sự cứu rỗi.
Và rồi anh được đưa đến trước mặt một sinh mệnh linh hồn. Sinh mệnh này hỏi rằng điều gì đã mang anh đến đây. Jeffrey trả lời rằng thế giới này thật bất công và anh không muốn là một phần của nó thêm một thời khắc nào nữa.

Đột nhiên anh nhận ra sinh mệnh của anh, cuộc đời của anh trên thế gian này là có ý nghĩa. Anh đến thế gian này là để hoàn thành một sứ mệnh.

Sinh mệnh của anh, cuộc đời của anh trên thế gian này là có ý nghĩa. Anh đến thế gian này là để hoàn thành một sứ mệnh (Ảnh: Epoch Times)
Sinh mệnh này giải thích với Jeffrey rằng trước đây anh từng cầu xin để được sinh ra trong thế giới đó. Anh thậm chí đã tự mình lựa chọn người sẽ sinh ra anh và thời điểm chào đời. Sinh mệnh này cũng giải thích thêm, rằng Jeffrey đã nhận được sự cứu rỗi khi anh cầu xin nó, bởi lẽ trong thâm tâm anh vẫn còn tồn tại một chút đức tin, chính là còn có một chút hy vọng.
“Đức tin có ý nghĩa quan trọng hon nhiều so với những gì tôi có thể tưởng tượng. Sinh mệnh ấy đã nhìn thấy điều gì đó bên trong tôi mà thậm chí bản thân tôi không thể nhìn thấy. Tôi bắt đầu than khóc thảm thiết, đến nỗi như thể bị đóng băng trên nền nhà, hai tay ôm lấy đầu. Tôi không cách nào kìm được hai hàng nước mắt lăn dài trên gương mặt,” Jeffrey nói.
Sau đó, anh được cho xem các sự kiện sẽ xảy đến trong tương lai, bao gồm việc anh bị gãy lưng và việc đó sẽ tác động đến anh như thế nào. Những điều này về sau đã trở thành sự thật.
Anh được bảo rằng anh đã chọn lựa những thứ này trước khi anh sinh ra vì một nguyên nhân nào đó. Anh nhận biết được kết quả, nhưng anh vẫn phải trở lại để hoàn thành chúng. Anh không muốn quay trở lại, nhưng khi linh hồn anh nhập trở lại cơ thể anh cảm thấy một sự thoải mái và bình an khó tả từ Ngài.

Người y tá nói rằng anh đã chết, sau đó được cứu sống trở lại.

Anh hôn mê trong vòng ba ngày liên tiếp, mặc dù tâm trí anh vẫn rất tỉnh táo. Nằm bất động lại đó, anh nghĩ về tất cả những chi tiết của trải nghiệm kì lạ kia. Khi tỉnh dậy khỏi cơn hôn mê, một y tá bảo anh rằng anh đã chết, sau đó được cứu sống trở lại.
“Tôi từng là một kẻ nghiện rượu chuyên buôn bán ma túy. Sau này tôi đã trở thành một tên du côn”, anh cho biết.
Nhưng sau khi kinh qua sự việc chấn động này, cuộc đời và lối sống của anh đã hoàn toàn thay đổi, và rẽ ngoặt sang một hướng khác. Anh không còn sợ cái chết nữa, thậm chí sau trải nghiệm đến địa ngục, bởi vì giờ đây anh đã tìm lại được mối liên kết bình yên, bao trọn tất cả với cội nguồn thần thánh.

Các sự kiện tương lai mà anh nhìn thấy trong trải nghiệm cận tử về sau đã trở thành sự thật.

“Tôi biết đó là thật bởi vì nó sống động hơn bất kỳ giấc mơ nào khác”, anh cho biết.
Tôi biết đó là thật bởi vì nó sống động hơn bất kỳ giấc mơ nào khác. (Ảnh: Epoch Times)
Đề cập đến các cảnh tượng mà đã thật sự xảy đến trong tương lai sau này, anh cho biết chúng khó có thể đơn thuần là một giấc mơ hay ảo giác bởi chúng quá ăn khớp với các sự kiện thực tế ngoài đời thực qua các năm. Cứ như thể là chúng đã được định sẵn từ trước vậy.
Anh chia sẻ điều anh học được từ các thử thách khó khăn trong cuộc sống:
“Những thử thách sẽ cung cấp cho chúng ta các trải nghiệm. Đôi lúc các sự việc mà dường như trên bề mặt là đang mang đến khó khăn và trở ngại nhưng thực chất lại là để giúp chúng ta tránh các tai ương khủng khiếp trong tương lai. Một chiếc lốp xe đột nhiên xuất hiện trên mặt đường cao tốc buộc chúng ta phải dừng lại có thể là một trở ngại chắn đường nhưng lại rất có thể là để giúp chúng ta tránh một vụ tai nạn giao thông ở phía cuối chặng đường”.
Những người trải nghiệm cận tử khác đã báo cáo nhìn thấy cảnh tượng tương tự
(Ảnh: Epoch Times)
Rất nhiều khía cạnh trong trải nghiệm cận tử của Jeffrey là khá phổ biến trong cộng đồng những người từng có trải nghiệm cận tử. Nhà nghiên cứu về trải nghiệm cận tử, TS Jan Holden đã kể lại câu chuyện về một người đàn ông khác từng cố gắng tự tử trong buổi thuyết trình giới thiệu cuốn sách, “Sổ tay những trường hợp Trải nghiệm Cận tử (The Handbook of Near-Death Experiences)” của cô.
Người đàn ông này cho biết trong trải nghiệm cá nhân, anh cảm thấy mình đang rơi tự do trong không gian, rồi đáp xuống một bề mặt đất sét. Khi tiếp đất, anh đã bị vỡ tan thành nhiều người, nhiều cá nhân giống anh.
Người đàn ông này cũng bị buộc phải nếm trải tất cả những điều xấu xa mà anh đã từng gây ra cho người khác.
Khi tiếp đất, anh đã bị vỡ tan thành nhiều người, nhiều cá nhân giống anh. Người đàn ông này cũng bị buộc phải nếm trải tất cả những điều xấu xa mà anh đã từng gây ra cho người khác. Ảnh: Epoch Times
Một cá nhân giống anh đang than khóc trong đau khổ. Hai cá nhân khác đang tua lại cuộc sống trước đây, gặp lại những người trong kiếp sống đó. Giống như Jeffrey, anh cũng phải nếm trải hậu quả cho những hành động của mình. Và nó không giới hạn ở những việc làm xấu đối với những người quan trọng trong cuộc đời anh, mà còn bao gồm cả những người mới chỉ thoáng gặp, ví như một người xa lạ mà anh đã đối xử thô lỗ vào một ngày kia trong cửa hàng tạp hóa.
Các cá nhân còn lại thì đang trải nghiệm tương lai gần, ví như họ nhìn thấy mẹ anh nhận được cuộc gọi thông báo về vụ tự tử của con trai. Anh cũng nhìn thấy tương lai xa của bản thân. Tại thời điểm tự tử, cô con gái nhỏ của anh mới chào đời chưa lâu. Nhưng trong không gian này, anh có thể nhìn thấy cô bé đang khóc vào ngày lễ tốt nghiệp của cháu khi cha cô không thể có mặt.
Một cá nhân khác đang khóc lóc cầu xin sự cứu rỗi. Rồi một bàn tay nhấc cá nhân này lên, và tất cả những cá nhân khác của anh đều thăng lên cùng với cá nhân này. Một sinh mệnh linh hồn nói rằng anh phải quay trở về, bởi anh vẫn còn những việc cần phải làm. Hiện giờ anh đang là CEO của một tổ chức phi lợi nhuận với tôn chỉ ngăn chặn các vụ tự tử trong quần chúng.
Đại Kỷ Nguyên tiếng Anh
Ngự Yên biên dịch

Xem thêm:

Đâu là bản chất đích thực của con người? (P3): ‘Trí tưởng tượng quan trọng hơn cả kiến thức’

Tiếp phần 1, phần 2
Ảnh: PVHg
“Thực ra toàn bộ toán học là hình học” (Gottlob Frege)

Có thể nói những chương trình computer dành cho Deep Blue 1997 và Thí nghiệm Turing năm 2009 là những kiệt tác của khoa học AI (Trí thông minh nhân tạo). Chúng không chỉ thúc đẩy khoa học “computer” vươn tới những phép lạ, mà quan trọng hơn về mặt triết học nhận thức chúng hé lộ cho chúng ta thấy rõ hơn tính người thực sự nằm ở đâu – tính người không “trú ngụ” nhiều ở những nơi computer có thể xử lý, mà nằm ở những nơi computer bất lực!
Lynn Fancher, Phó GS Sinh học tại Đại học College DuPage, Glen Ellyn, Illinois, Mỹ, trong bài báo “The Limitations of Science”[1] (Hạn chế của khoa học) đã nêu lên 3 lĩnh vực mà khoa học không thể trả lời, cũng tức là 3 lĩnh vực mà computer bất lực:
Một: Khoa học không thể trả lời những câu hỏi về giá trị. Chẳng hạn, không thể trả lời câu hỏi “Hoa Hồng hay hoa Cúc đẹp hơn?”, hoặc “Vàng hay thép giá trị hơn?”[2].
Hai: Khoa học cũng không thể trả lời những câu hỏi về đạo đức. Vấn đề quyết định xem cái gì là thiện hay ác, đúng hay sai, nằm ngoài phạm vi khoa học.
Ba: Khoa học không giúp chúng ta trả lời được những câu hỏi liên quan tới những khái niệm siêu-tự-nhiên (supernatural). Thí dụ: Không thể chứng minh hoặc phủ nhận sự tồn tại của Thượng đế.
Vậy phải tìm câu trả lời cho ba lĩnh vực trên ở đâu?
Hãy tìm trong văn chương, thơ ca, nghệ thuật, âm nhạc, triết học, … Đây mới thật sự là những lĩnh vực nhận thức “người nhất”, giàu tính nhân văn nhất!
Kết luận trên tuy không mới mẻ nhưng trong bối cảnh của nền văn minh kỹ trị ngày nay, khi các khoa học vật chất đã và đang chiếm địa vị lấn át, tư duy hình thức sáo rỗng đang lấn át tư duy cảm xúc, tư duy máy móc đang lấn át tư duy nhân văn, thì sự khẳng định những giá trị người nhất của con người mang một ý nghĩa cứu tinh!
Nó báo động cho chúng ta biết rằng nền văn minh kỹ trị đang đi nhầm đường!
Nó kêu gọi loài người hãy tỉnh thức khi còn kịp để cứu vãn cỗ xe văn minh khỏi lao xuống vực thẳm của chiến tranh, tội ác, đói nghèo, ô nhiễm môi trường, hâm nóng khí quyển, tàn phá sinh thái, tha hoá đạo đức, vô cảm trước nỗi đau, …
Nó khuyến dụ chúng ta hãy điều chỉnh nền giáo dục trở về với mục tiêu nhân văn!
Nó dạy chúng ta rằng hãy sử dụng computer như những tên nô lệ đắc lực thay vì tôn chúng lên thành những ông chủ!
Nó đánh động lương tri của mỗi chúng ta, nhắc bảo chúng ta cái gì mang tính người nhất trong chúng ta để chúng ta hướng tới những giá trị người nhất ấy mà sống!
Vâng, cái làm cho chúng ta thực sự trở nên người là những giá trị thuộc về phần hồn [3] (the soul), bởi linh hồn là một cái gì đó liên hệ rất nhiều tới thơ ca, nghệ thuật, văn chương, âm nhạc, v.v.
Khi con người đang sống, linh hồn luôn luôn gắn bó với thể xác nhưng nó không phải là thể xác. Ngay từ thế kỷ thứ 5 TCN, nhà triết học Hy Lạp Socrates đã cho rằng linh hồn là một cái gì đó “vượt quá” thể xác (transcended the body) – một cái gì đó phi vật chất và siêu việt hơn vật chất – trong khi nhiều người cùng thời với ông cho rằng linh hồn được tạo bởi một dạng vật chất tinh tế nhất và lơ lửng trong không khí.
Trong thời đại ngày nay, có người ví phần hồn và phần xác của con người tương tự như phần mềm và phần cứng của computer. Theo đó, phần mềm của computer tuy “không cứng” nhưng nó vẫn là vật chất có thể nhìn thấy được, và theo một số lý thuyết về năng lượng tinh thần thì linh hồn là một dạng vật chất siêu hình hoặc vô hình, vô ảnh, vô tượng, vô lượng[4],… Dù vậy với trình độ của khoa học kỹ thuật hiện nay, việc kiểm chứng sự tồn tại của linh hồn còn khó gấp bội so với việc kiểm chứng “vật chất tối” (dark matter) và “năng lượng tối” (dark energy) trong vật lý ngày nay. Phương trình trường của Einstein có thể đã ngầm chứa khái niệm năng lượng tối, nhưng liệu có thể có một phương trình nào chỉ ra sự tồn tại của linh hồn hay không?
Tuy nhiên, những nền văn minh lớn nhất từ xa xưa đã tin vào sự hiện hữu của linh hồn, thậm chí người ta còn bàn cãi linh hồn nằm ở đâu, và quan trọng nhất, người ta cho rằng phần hồn mới là phần mang tính người nhiều nhất!
Thật vậy, người Ai Cập cổ đại tin rằng linh hồn nằm trong trái tim. Bằng chứng là các xác ướp Ai Cập đều giữ lại quả tim, trong khi mọi bộ phận khác của cơ thể đều bị loại bỏ, kể cả bộ não – bộ não không quý bằng trái tim, tư duy không quý bằng cảm xúc, sự khôn ngoan không quý bằng những rung động tinh thần! Tóm lại, người Ai Cập cổ đại cách đây hàng ngàn năm đã thấy linh hồn là thành phần mang tính người nhiều nhất – cái mà mấy ngàn năm sau nền văn minh kỹ trị đã và đang dần dần lãng quên.
Sự lãng quên này có nguồn gốc sâu xa là chủ nghĩa duy lý (rationalism) và chủ nghĩa thực chứng (positivism) – những chủ nghĩa cho rằng tất cả những gì không thể chứng minh hoặc không thể kiểm chứng đều không đáng tin. Linh hồn là một khái niệm dựa trên niềm tin nhiều hơn là chứng minh hoặc thực chứng, vì thế sự tồn tại của linh hồn không đáng tin. Ngược lại, thể xác là cái hiện hữu có thể kiểm chứng được, do đó mối quan tâm tới con người trước hết phải là quan tâm tới thể xác. Nhu cầu ăn uống, sinh tồn là nhu cầu thiết thực, trong khi nhu cầu thoả mãn phần hồn là nhu cầu viển vông, hư vô chủ nghĩa. Đó là nguồn gốc sâu xa dẫn tới sự xói mòn các giá trị nhân văn trong những thế kỷ sau này, đặc biệt trong thế kỷ 20 – thế kỷ bùng nổ của khoa học và công nghệ, dẫn tới sự thống trị của tư duy lý tính – tư duy Descartes.
René Descartes (1596-1650), cha đẻ của Hệ toạ độ Descartes và Hình học giải tích, một trong những ông tổ của chủ nghĩa duy lý, người có ảnh hưởng bao trùm lên tư duy hiện đại với câu châm ngôn nổi tiếng: “Cogito ergo sum” = “Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại”.
Ông không nói “Tôi cảm thấy…”, “Tôi nghiệm thấy…”, “Tôi nhận thấy…”. Không! “Tôi tư duy…” , mà là tư duy lý lẽ, tư duy chứng minh, tư duy biện luận, tư duy giải thích, tư duy phân tích, …
Ông không chỉ nói, mà hành động để chứng minh tư tưởng của ông là chân lý: Hình học Euclid dựa trên những chứng minh trực giác được thay thế bằng Hình học giải tích – suy diễn dựa trên cảm nhận trực giác được thay thế bằng những biến đổi thuần tuý đại số, cảm nhận mang tính người được thay thế bằng tư duy tính toán (mà ngày nay ta gọi là tư duy computer). Đó chính là điều đang diễn ra trong nhà trường nhưng các nhà giáo dục không ý thức được rằng họ đang biến con người thành những chiếc computer! Điều này sẽ được phân tích kỹ hơn trong một bài viết tiếp theo, còn bây giờ xin hãy quay lại với Descartes.
Ảnh: PVHg
Bản thân Descartes là một nghịch lý: Trong khi chủ trương duy lý, nhưng ông lại tin vào sự tồn tại của những thứ không thể chứng minh được. Thật vậy, trước khi nhắm mắt, ông nói: “Nào, hãy lên đường đi, linh hồn ta hỡi!” (Allons, s’en-va, môn âme!). Thậm chí ông còn ra sức chứng minh sự tồn tại của Thượng đế, mặc dù cuối cùng thất bại[5]. Riêng về linh hồn, ông là người đòi phải tìm ra vị trí trú ngụ chính xác của linh hồn trong cơ thể con người. Theo ông, linh hồn nằm tại chính giữa bộ não (?).
Các nhà thơ, nhà văn lại thường mô tả tâm hồn nằm trong đôi mắt: “sinh khí” và tinh thần của con người biểu lộ rất rõ qua đôi mắt, ánh mắt – đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn! Trong khi các nhà khoa học thần kinh trước đây đã từng nghĩ rằng tư duy của con người tập trung ở não trái. Nhà khoa học thần kinh Oliver Sacks nói:
“Toàn bộ lịch sử thần kinh học và tâm-lý-thần-kinh-học (neuropsychology) có thể được coi như lịch sử của việc nghiên cứu bán cầu não trái. Một lý do quan trọng để người ta ít chú ý tới não phải là ở chỗ trong khi dễ dàng chứng minh các hiệu ứng của các tổn thương khu vực khác nhau đối với não trái, thì các triệu chứng bệnh lý tương ứng của bán cầu não phải lại rất ít phân biệt. Não phải nói chung bị xem thường so với não trái vì mang tính “nguyên thuỷ” hơn, trong khi não trái được xem như một bông hoa độc đáo của sự tiến hoá của con người. Theo một nghĩa nào đó thì điều này là chính xác: não trái tinh vi và chuyên biệt hơn, một sản phẩm tự nhiên hình thành rất muộn trong não vượn và đặc biệt trong não người. Mặt khác, chính não phải kiểm soát các khả năng chủ yếu trong việc nhận biết thế giới hiện thực xung quanh mà mọi động vật phải có để sinh tồn. Bán cầu não trái giống như một chiếc computer được gắn vào não người, được thiết kế để xử lý các chương trình và sơ đồ …”.
Tư tưởng nói trên cho thấy các nhà khoa học thần kinh đã từng coi tư duy của con người cũng giống như tư duy của computer. Tuy nhiên, những thành tựu mới nhất của khoa học computer đã chỉ ra rằng phần tư duy người nhất của con người không phải là tư duy computer và điều này hoàn toàn ăn khớp với những khám phá mới nhất của khoa học thần kinh.
Thật vậy, bài báo “Right Brain vs. Left Brain” (Não phải đấu với não trái)[6] cho biết: “Trong khi não trái thiên về những chức năng suy luận logic, phân tích lý luận, mổ xẻ chi tiết, nhận xét khách quan (không bị ảnh hưởng bởi cảm xúc riêng tư) thì não phải lại thiên về chức năng tư duy trực giác, tư duy tổng hợp, tư duy khái quát, cảm hứng ngẫu nhiên, nhìn toàn thể để rút ra cái chung mang tính bản chất, tư duy chủ quan (cảm xúc riêng tư)”.
Qua đó có thể kết luận:
“Tư duy của não trái thiên về tư duy computer, tư duy não phải thiên về tư duy người. Phần người nhất trong con người nằm ở não phải – linh hồn con người nếu phải tìm chỗ trú ngụ, nó sẽ chọn ngôi nhà chủ yếu ở não phải!”.
Tuy nhiên sẽ là một nhầm lẫn lớn nếu tuyệt đối hoá việc tách bạch hai loại tư duy thành hai khu vực hoàn toàn tách rời nhau. Thực tế hai bán cầu não thường phối hợp hoạt động với nhau để có được một tư duy đầy đủ nhất – giống như một hoạ sĩ lập thể có thể thể hiện một đối tượng với nhiều hình chiếu cùng xuất hiện một lúc trên một bức tranh, cái mà nghệ thuật phối cảnh cổ điển không thể có.
Đến đây có lẽ chúng ta sẽ dễ dàng đồng ý với nhau rằng tư duy thơ ca, nghệ thuật sẽ hoạt động chủ yếu ở não phải và đó là tư duy nằm trong phần đặc trưng cho tính người. Vậy tư duy khoa học thì sao?
Phải chăng tư duy khoa học là tư duy computer và do đó kém tính người hơn tư duy văn chương, nghệ thuật?
Không, đó là một ý nghĩ hồ đồ, kém hiểu biết về bản chất của khoa học.
Nếu so sánh khoa học với các lĩnh vực văn chương, nghệ thuật thì phải thừa nhận rằng khoa học chứa đựng nhiều tư duy máy móc hơn. Tuy nhiên sẽ là sai lầm nếu tuyệt đối hoá kết luận đó. Thực tế những nhà khoa học chân chính cũng đồng thời là những nghệ sĩ, theo đúng nghĩa của từ này. Còn ai nghệ sĩ hơn Albert Einstein khi ông tuyên bố: “Trí tưởng tượng quan trọng hơn kiến thức (The imagination is more important than knowledge)”. Thực ra Einstein và các danh họa cùng tìm kiếm một chân lý như nhau nhưng chỉ khác nhau ở phương pháp tiếp cận mà thôi. Đó là lý do giải thích vì sao Einstein rất mê Hình học Euclid. Ông gọi đó là cuốn “Hình học thiêng liêng” (The Holy Geometry). Tư tưởng hình học xuyên suốt đời ông, và có thể nói không ngoa rằng Thuyết tương đối tổng quát của ông chính là một lý thuyết “Hình học vật lý”. Cảm xúc hình học thiên về cảm xúc người, cảm xúc đại số thiên về tư duy của computer. Đó là lý do để Gottlob Frege, một nhà toán học lớn của Đức đầu thế kỷ 20, đã thốt lên vào lúc cuối đời rằng “Thực ra toàn bộ toán học là hình học”[7].
Đáng tiếc là phần lớn các nhà giáo dục không hiểu điều Frege nói. Muốn hiểu Frege, phải tìm hiểu lịch sử toán học thế kỷ 20, đặc biệt phải hiểu Chủ nghĩa toán học hình thức là gì, và không thể không biết “thảm hoạ giáo dục” trên thế giới những năm 1960 dưới danh hiệu “Toán học mới” (New Mathematics) mà tác hại của nó vẫn còn tới hôm nay. Tất cả những chuyện đó xin dành cho bài kỳ sau.
Tác giả: GS Phạm Việt Hưng.
Đăng tải với sự cho phép.
Đọc các bài khác của tác giả Phạm Việt Hưng ở đây.
Chú thích:
[1] Xem thêm: “Bên ngoài khoa học” của Phạm Việt Hưng, Khoa học & Tổ quốc tháng 03/2010 và các trang mạng: http://vietsciences.free.fr/  hoặc https://viethungpham.wordpress.com/
[2] Nền văn hoá của chúng ta coi vàng có giá trị hơn, nhưng khi cần một thứ kim loại để xây dựng một toà nhà chọc trời thì vàng lại trở nên hết sức bất lợi, vì nó quá mềm.
[3] Nếu không tin có linh hồn thì xin tạm thời thay thế khái niệm này bằng tâm hồn (the spirit). Trong thần học, những khái niệm này không hoàn toàn đồng nhất, mà có thể được phân tầng theo thứ bậc cao thấp rõ ràng. Nhưng bài viết này chỉ nhắc đến những khái niệm đó dưới một nhãn quan chung, đó là phần người không thuộc thể xác vật chất.
[4] Tất cả những từ ngữ mô tả linh hồn nói trên đều có thể sai hoặc thiếu chính xác, bởi chưa hề có một lý thuyết khoa học hoặc thực nghiệm nào đủ để chúng ta hiểu về nó một cách nhất quán. Nhà ngoại cảm có thể thấy rõ linh hồn nhưng cũng không thể “khoa học hoá” khái niệm này sao cho mọi người có thể cảm nhận được giống như họ.
[5] Nhà toán học lừng danh Kurt Godel cũng từng chứng minh sự tồn tại của Chúa!
[6] http://www.funderstanding.com/content/right-brain-vs-left-brain
[7] Xem “Lời sám hối của một nhà toán học hình thức” của Phạm Việt Hưng trên Khoa học & Tổ quốc tháng 05/2009 và trên các trang mạng: http://vietsciences.free.fr/  hoặc https://viethungpham.wordpress.com/

Xem thêm:

Nhà khoa học thần kinh: Tiên tri chính là ‘khả năng du hành xuyên thời gian của tâm trí’

Có những quy tắc của thế giới vật chất mà không áp dụng cho thế giới tinh thần. Lấy ví dụ, trong mơ bạn có thể bay lên cao, tưởng tượng ra một con sóc đang trò chuyện với bạn… Tuy nhiên, những giấc mơ và trí tưởng tượng thường được cho là mang tính tự bao hàm, có nghĩa là, nhìn chung nó không có tác động thực tại nào đến thế giới vật chất bên ngoài.
Tuy nhiên, Tiến sĩ Julia Mossbridge lại có suy nghĩ khác dựa trên những giấc mơ tiên tri của bản thân bà. Bà nói:

“Tôi nghĩ rằng tiên tri là một dạng thức trong đó tâm trí của bạn du hành thời gian đến tương lai để thu thập thông tin. Chúng ta chỉ biết áp dụng các quy luật của thế giới vật chất cho thế giới tinh thần mà không hiểu rằng có những quy luật khác nhau ở đó. Đó là một phạm trù, một phạm vi hoàn toàn khác biệt”.
Bà tiếp tục:
“Sự phân cách về không gian (giữa anh và tôi) và sự phân cách về thời gian (giữa sự kiện A và sự kiện B) trong thế giới vật chất này, đâu phải nhất định cũng đúng với thế giới của tâm trí, của tinh thần?”

Những giấc mơ tiên tri cho thấy địa hạt của tâm trí con người không tuân theo các quy tắc mà chúng ta thường áp dụng cho thế giới vật chất, Mossbridge cho hay.

(Ảnh: epochtimes)
Mossbridge là một nhà thần kinh học nhận thức (nhà khoa học về lĩnh vực thần kinh nhận thức). Bà đã làm việc với nhiều nhà vật lí và nhà tâm lý học để tìm ra các quy luật của quá trình tâm trí du hành xuyên thời gian.
TS Julia Mossbridge. Ảnh: Mossbridge
Trải nghiệm cá nhân của Mossbridge với những giấc mơ tiên tri là nhân tố thúc đẩy bà đi trên con đường nghiên cứu này. Bà cho biết một giấc mơ như vậy, đã “khiến bà chấn kinh”.

Bà Mossbridge từng có một giấc mơ dự đoán một sự kiện, chính xác đến từng chi tiết.

(Ảnh: epochtimes)
Vào thời điểm giấc mơ xuất hiện, bà đang trải qua một cuộc ly hôn. Bà có một đứa con 5 tuổi và không biết hai mẹ con sẽ sống ở đâu say ly hôn. Bà đã nghĩ về một nơi bà từng sống và cho rằng sẽ thật tốt nếu có thể quay trở lại đó.
Trong giấc mơ, bà gọi điện cho một bà chủ nhà trong khu vực mà bà biết. Bà chủ nhà cho biết bà có một ngôi nhà hai tầng cho thuê. Tầng trên đã được tân trang lại gần đây và đã có người thuê. Tầng dưới đang được tân trang lại và sẽ sẵn sàng trong hai tháng. Bà chủ nhà nói rằng bà có thể dẫn Mossbridge đi xem tầng trên để có thể ít nhiều hình dung được tầng dưới sẽ như thế nào khi sửa xong. Nếu bà chịu ký hợp đồng thuê nhà ngay, bà có thể chọn màu sơn cho căn phòng.

Mọi chuyện sau đó đã xảy ra y như vậy trong đời thực.

Tuy nhiên, trong đời thực, Mossbridge không gọi cho bà chủ nhà, mà thay vào đó chạy đến đó. Nhưng mọi chi tiết khác trong giấc mơ của bà, từng chi tiết nhỏ nhặt nhất,  đều trở thành hiện thực – từ căn nhà hai tầng, vụ tân trang lại, thời hạn hai tháng cho đến khi tầng dưới được hoàn thành, việc chọn màu sơn, tất cả đều chính xác.
“Mọi người đều có cả hai loại giấc mơ tiên tri, một loại về những điều dường như khá tầm thường, và loại kia là về những điều thực sự quan trọng trong cuộc sống của họ. Giấc mơ tiên tri thường xảy ra theo cách thức như vậy. Nhưng tôi bắt đầu tin rằng những điều dường như khá tầm thường kia lại không phải thế. Mà chúng giống như các tín hiệu chỉ dẫn, [các dấu hiệu, ám thị] trong cuộc sống. Lúc đầu, có thể bạn không nhận ra chúng là các sự kiện quan trọng, nhưng khi đến một lúc nào đó bạn sẽ phải thốt lên rằng, “Ồ hóa ra là vậy”, Mossbridge nói.
Chẳng hạn, giấc mơ tiên tri đầu tiên mà bà nhớ được là vào lúc nhỏ. Trong mơ một người bạn của bà bị mất chiếc đồng hồ trong sân chơi, và điều này đã thực sự xảy đến vào ngày hôm sau. Đây chỉ là một sự việc tầm thường, nhưng nhìn lại và suy ngẫm, nó dường như khá quan trọng đối với Mossbridge. Chiếc đồng hồ tượng trưng cho thời gian – chủ đề trọng tâm trong các nghiên cứu của bà sau này.
Là một nhà khoa học, Mossbridge tự hỏi liệu đây có phải là một trường hợp thiên kiến xác nhận hay không. Trong khoa học, thiên kiến xác nhận (còn gọi là thiên kiến (thiên lệch) khẳng định) là một khuynh hướng trong đó con người thường ưa chuộng/nghe theo, thậm chí chủ động tìm kiếm những thông tin nào xác nhận các niềm tin hoặc giả thuyết của chính họ. Theo đó, một giấc mơ vô nghĩa có thể trở thành “giấc mơ tiên tri” nếu bạn nhìn lại nó và cố gắng tìm kiếm các mối liên kết với các sự kiện trong đời sống thực.
Đó là lý do tại sao Mossbridge muốn khảo sát những thứ này một cách khoa học.

Các thí nghiệm chỉ ra, con người có thể biết được một cách vô thức điều sẽ xảy đến trong tương lai.

Một người đội chiếc mũ đo điện não đồ ghi lại những xung điện từ các neuron trong não bộ. (Ảnh: Ulrich W.)
Chẳng hạn, bà đã tiến hành phân tích tổng hợp kết quả thí nghiệm từ 7 phòng thí nghiệm độc lập. Kết quả chỉ ra cơ thể người sẽ phản ứng với các kích thích trong tương lai. Khi điều gì đó sắp xảy ra, một người sẽ vô thức biết được sự việc đó sẽ xảy ra. Phản ứng vô thức này có thể được xác thực trong phòng thí nghiệm bằng cách đo lường các phản ứng trong hệ thần kinh, tuyến mồ hôi, hoặc nhịp tim. Điểm cần nhấn mạnh là, các phản ứng cơ thể này xảy ra trước khi bạn gặp phải bất cứ điều gì. Lấy ví dụ, nếu bạn sắp gặp phải một chuyện rất đáng sợ, bạn sẽ cảm thấy lạnh sống lưng, tim đập nhanh, … chính là một loại cảm giác bất an lo lắng mặc dù … sự việc đáng sợ đó hoàn toàn chưa xảy ra.
Bà cũng đang làm các thí nghiệm cho thấy con người có thể sử dụng công năng thấy xa (nhìn thấy sự vật cách xa hàng trăm dặm) và giấc mơ tiên tri để dự đoán các sự kiện trên thị trường chứng khoán.
Liệu có thể áp dụng khả năng này để dự đoán các vụ tấn công khủng bố?
Một vụ đánh bom tự sát được thực hiện bởi Nhà nước Hồi giáo (IS) ở Kobani, Syria. (Ảnh: Gokhan Sahin / Getty)
Nếu có thể dự đoán các cuộc xả súng quy mô lớn hay các vụ tấn công bằng bom, nó sẽ giúp ích được cho rất nhiều người. Vào năm 2015, Mossbridge đã có một giấc mơ tiên tri về một vụ đánh bom của Nhà nước Hồi giáo tự xưng IS ở Kuwait.
Bà đã có một giấc mơ vào đúng đêm sự kiện xảy ra và rất nhiều chi tiết đều trùng khớp. Không chỉ vậy, bà còn nhìn thấy điều đó xảy ra trong buổi cầu nguyện giữa trưa, trong đó bà nhìn thấy con số 27, chính là số người chết; bà còn nhìn thấy chữ “IS”. Một số chi tiết có vẻ không khớp, ví như bà nghĩ sự việc xảy ra ở Israel, chứ không phải Kuwait.
Nhật kí của Tiến sĩ Julia Mossbridge, nơi bà ghi lại giấc mơ tiên tri của mình về một vụ đánh bom vào ngày 26/7/2015. Ảnh chụp màn hình / Skype
Chính nhờ hiệu quả tiềm năng của những giấc mơ như vậy, Mossbridge nghĩ rằng nếu mọi người có thể chia sẻ linh cảm của họ thông qua một sổ dữ liệu trực tuyến, nó sẽ có thể giúp ích rất nhiều. Nếu sổ đăng ký nhận được hàng chục các [báo cáo] linh cảm mà tất cả chúng đều trùng khớp ở một số phương diện nhất định, nó có thể là dấu hiệu cho thấy một sự kiện có nhiều khả năng xảy ra.
Mọi người có thể tránh xa một địa điểm nhất định nào đó nếu rất nhiều người có linh cảm về một vụ tấn công tại địa điểm đó vào một thời điểm nhất định.

Hãy thử hình dung một tương lai với một cuốn sổ lưu trữ dữ liệu trung tâm về linh cảm.

(Ảnh: epochtimes)
Mặc dù đã có một số nỗ lực để tạo ra một cuốn sổ lưu trữ dữ liệu về linh cảm như vậy, nhưng “chúng dường như không ổn vì mọi người sẽ không thể thờ ơ với thứ này. Mọi người sẽ rất sợ hãi. Bởi nếu tôi nói với ai đó giấc mơ về vụ đánh bom, và kể rất chi tiết, họ có thể đến nhà tôi và hỏi, “Vậy chính là bà đã thực hiện vụ đánh bom này phải không”, Mossbridge cho hay.
Bởi những người không ở trong cuộc sẽ không biết làm thế nào để đối phó với trường hợp loại này, nên họ có thể cho rằng những người có linh cảm bị bệnh tâm lý, hay gặp vấn đề về tinh thần. Hoặc họ có thể cho rằng “những người đó cho rằng họ bắt gặp một sự trùng hợp ngẫu nhiên có ý nghĩa [có tính liên hệ với đời sống thực], nhưng rốt cục chúng vẫn chỉ đơn thuần là những sự trùng hợp ngẫu nhiên mà thôi”.
Tuy rằng việc suy ngẫm về thời gian và các khả năng tinh thần siêu việt (VD: khả năng tiên tri) là một trong những việc ưa thích của Mossbridge, bên cạnh đó, bà cũng tham gia tất cả các loại dự án thú vị khác. Chẳng hạn, bà vừa là giám đốc nghiên cứu của Viện Mossbridge, vừa là giám đốc Phòng thí nghiệm Sáng tạo (Innovation Lab) tại Viện Khoa học Tinh thần (Institute of Noetic Sciences).
Công việc hàng ngày của bà bao gồm việc phát triển các ứng dụng để giúp mọi người lắng nghe trực giác của mình và kiểm nghiệm khả năng tồn tại các công năng tinh thần của bản thân, cũng như dạy các lập trình viên ở Thung lũng Silicon (Silicon Valley) cách chăm sóc sức khỏe tinh thần cho chính mình.
Một cuốn sách của bà, “Transcendent Mind” (tạm dịch: Tâm trí siêu việt), đã được Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ xuất bản vào cuối năm ngoái. Việc cuốn sách này được một viện khoa học lớn xuất bản là một bước tiến quan trọng đối với rất nhiều nhà khoa học từng nghiêm túc nghiên cứu khả năng tiên tri, và các hiện tượng khác cho thấy tinh thần hay tâm trí có khả năng tồn tại bên ngoài và không phụ thuộc vào não bộ.
Ngự Yên
 

Xem thêm: